how to apply vietnam visa on arrival online
+ Trả lời chủ đề
Trang 1/4 123 ... CuốiCuối
Hiện kết quả từ 1 tới 15 của 52
  1. #1

    giới thiệu 1 số môn võ của các nước trên thế giới :)

    nijutsu môn võ bì truyền của nhật bản

    Ninja, những sát thủ vô hình vang bóng một thời trong lịch sử Nhật Bản gần như khá quen thuộc đối với những người hâm mộ võ thuật phương Đông. Bởi lẽ họ đã xuất sắc sử dụng môn võ Ninjitsu để hoàn thành sứ mệnh nhiều khó khăn, nguy hiểm. Chúng tôi xin giới thiệu đến bạn đọc vài nét về môn võ bí truyền này.

    Nguồn gốc:

    Mặc dù đất dụng võ của Ninjutsu là Nhật Bản, nhưng thực ra môn này có nguồn gốc sâu xa từ Trung Quốc. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng Ninjutsu xuất phát từ Tôn Tử hay Tôn Võ Tử, người đời Xuân Thu (722-481 trước Công Nguyên) sanh ở phía Đông núi La Phù, thao lược tinh thông. Ông đã soạn ra một bộ binh pháp gồm 13 thiên: Thủy kế, Tác chiến, Mưu công, Quân hình, Binh thế, Hư thiệt, Quân tranh, Cửu biến, Hành quân, Địa hình, Tựu Địa, Hỏa công, Dụng gián. Bộ sách trình bày những thuật dùng binh, đồng thời cũng là án văn chương bình dị, ý tứ dồi dào, nghĩa lý sâu sắc. Tôn Tử từng làm thượng tướng quân cho Ngô Hạp Lư, giúp Ngô đánh Sở, sau khi yên việc chiến trường, ông đã trở về điền viên lấy chữ thanh nhàn làm thú. Môn Ninjitsu sử dụng hầu hết thuật binh pháp của Tôn Tử, tập trung nhất là thiên “dụng gián” tức thiên bàn về công tác sử dụng gián điệp trong chiến tranh. Những chiến thuật về gián điệp của Tôn Tử đã du nhập vào Nhật Bản dưới thời lãnh chúa Shotoku (593-622) qua việc lãnh chúa này lần đầu tiên sử dụng các thuộc hạ của mình mặc thường phục để dọ thám địch tình phục vụ cho cuộc chiến tranh, từ đó Ninjitsu đã hình thành và phát triển ở Nhật Bản.

    Các giai đoạn phát triển:
    Tuy nhiên, mãi đến năm 500 năm sau, Ninjutsu mới bắt đầu lớn mạnh. Những nhà sư ở núi Yamaloushi đã làm rạng danh Ninjutsu vào thế kỷ XII qua việc sử dụng những kỹ thuật của môn phái này chống lại sự đàn áp của nhà vua trong những trận chiến đấu cá nhân và đồng đội. Đặc biệt, vào cuối đời vua Heian khoảng năm 1185, kinh đô Kyoto bị rối tung lên do sự xâm nhập của những nhà sư ở núi Yamalousi sử dụng Ninjutsu trừng trị bọn ác ôn, tham quan ô lại. Cũng vào thời điểm này, nhiều võ đường đã được thành lập để truyền dạy Ninjutsu rộng rãi trong nhân dân. Trong đó, nổi bật nhất là võ đường của Yoshitsune một Ninja khét tiếng đương thời. Đến thời Kamakura, vào năm 1192, Ninjutsu bắt đầu phát triển mạnh và bành trướng rộng rãi suốt 400 năm tiếp theo. Vào thời gian này, có đền 25 võ đường được thành lập để truyền dạy Ninjutsu, tập trung nhất là ở hai tỉnh Iga và Koga. Một trong những thủ lĩnh Ninja nổi tiếng của thế kỷ XVI là Sandayu Monochi từng chỉ huy một ngàn Ninja chống lại gần năm vạn quân của tướng Oda Nobunaga.
    Một thủ lĩnh Ninja khác là Hanzo Hatori, sống vào thế kỷ XVII, từng đắc lực giúp tướng quân Leyasu Tokugawa chiến thắng vẻ vang bốn vạn quân phiến loạn ở Shimabara Kyushu vào năm 1637. Sau đó, nhờ sự giúp đỡ của các Ninja, dòng họ tướng quân Leyasu Tokugawa đã trị vì đất nước của Thái Dương Thần Nữ đến cuối thế kỷ XIX. Sang thế kỷ XX, trong đệ nhị thế chiến, cơ quan mật vụ Nhật Bản đã phải cần đến sự hoạt động của các cao thủ Ninjutsu để góp phần chấm dứt cuộc phong tỏa của quân đội Mỹ do tướng Douglas chỉ huy đang chiếm đóng ở Nhật lúc bấy giờ. Sau thế chiến thứ hai, chính phủ Nhật đã đặt các Ninja ra ngoài vòng pháp luật. Tuy vậy, Ninjutsu vẫn được ngưỡng mộ, vào tháng 5-1980, để đối phó với bọn khủng bố đánh chiếm sứ quán Iran tại Anh, người ta đã phải nhờ tới một chuyên viên Ninjutsu tổ chức giúp một cuộc tấn công cấp kỳ để giải cứu các con tin. Kết quả là với kỹ thuật đặc thù của Ninjutsu, cuộc tấn công đã hoàn tất chớp nhoáng chỉ mấy phút. Với công trạng diệu kỳ này, môn Ninjutsu đã được chấp nhận phục hồi, hầu truyền dạy cho những người đương đại các kỹ thuật bì truyền của môn võ “thần kỳ” này phục vụ cho những mục đích tốt đẹp của xã hội và nhân loại.
    Chương trình huấn luyện môn Ninjutsu hiện đại bao gốm các phần:

    Đánh bằng tay không.

    Nhào lộn.

    Đánh bằng côn gỗ.

    Sử dụng vũ khí lạnh và ném liệng đối thủ.

    Đánh bằng dây xích và kiếm.

    Cách tẩu thoát và đột nhập vào những nơi đã đóng kín.

    Nghệ thuật ngụy trang.

    Chiến lược tác chiến.

    Toàn bộ chương trình huấn luyện của Ninjutsu hiện đại phát triển theo ba cấp độ.

    Cấp độ thứ 1: Người tập nắm vững được các phương pháp giao đấu sơ đẳng bằng tay không. Những nhóm cơ bắp và các dây chằng trong cơ thể được phát triển nhằm tạo cho người tập sự mếm dẻo, linh hoạt cao, nhào lộn giỏi. Sự tập luyện trong giai đoạn đầu rất cam go: Người tập phải rơi xuống những sàn cứng, bò trường một khoảng cách khá xa, cũng như phải tập vượt qua 300 km với nhiều chướng ngại vật trong một ngày. Người tập cũng học cách chuyển dịch không gây tiếng động và thoát khỏi cuộc phục kích của địch.

    Cấp độ thứ 2: Học tập và phân biệt năm trạng thái tâm lý của đối phương: Thói hám danh, tính nhút nhát, sự nóng nảy, thói lười biếng, nhu nhược, cũng như nắm bắt được năm dục vọng của kẻ thù: Đói, động dục, tự mãn, tham lam, tự kiêu. Với những bản lĩnh tâm lý này, môn đồ Ninjutsu trở thành những Ninja, vừa thành thạo các kỹ thuật song hành với việc hiểu biết tâm lý, đó là yếu tố của sự chiến thắng.

    Cấp độ thứ 3: Ninjutsu truyền dạy cho môn đồ tinh thần kiên tâm tối thượng, thông hiểu chín mức độ định thần bí mật của môn phái. Mỗi mức độ tương ứng với sự đan chéo những ngón tay một cách kỳ bí và một âm thanh đặc biệt cho phép họ kết hợp nghị lực tinh thần của con người với trí tuệ vạn năng của thiên nhiên.

    THỰC TẾ VÀ HUYỀN THOẠI

    Nhiều người nói rằng chương trình huấn luyện của Ninjutsu hiện đại rất sơ lược so với chương trình huấn luyện truyền thống. Họ đã viện dẫn những khả năng gần như huyền thoại của các Ninja để khẳng định thêm phán đoán trên. Chẳng hạn như các Ninja có thể chết vài giờ và sống lại sau đó, có thể đi trên tường, trên mặt nước, có thể tàng hình…!

    Tuy nhiên, theo nhiều nhà nghiên cứu võ học thì Ninjutsu truyền thống và Ninjutsu hiện đại không cách xa nhau lắm. Chương trình huấn luyện Ninjutsu truyền thống cũng bao gồm việc rèn luyện cho các Ninja khả năng sử dụng thông thạo các môn võ, các loại vũ khí (bao gồm cả ám khí, hơi độc, hỏa khí…) các phương pháp di chuyển, đột nhập và đào thóat trong mọi điều kiện, cũng như cách ngụy trang, ẩn thân, thậm chí giả chết… nhằm mục đích tối thượng là hoàn thành tốt đẹp sứ mệnh đã nhận lãnh. Tuy nhiên, do quá bất ngờ trong sự chạm trán với các Ninja, người ta không lý giải được các hành tung đặc dị của những sát thủ vô hình này, nên đã gán vào đấy một bức màn sương mù huyền thoại. Thật ra, tất cả đều do quá trình khổ luyện môn Ninjutsu một cách thành thục mà thôi.
    Chẳng hạn việc Ninja có thể sống dưới nước như loài cá mà dân gian vẫn thường truyền tụng, thực chất các Ninja đã sử dụng các ống sậy rỗng làm ống thở, và như thế tha hồ ở dưới nước bao lâu cũng được. Thêm nữa, các Ninja có thể mang theo một túi da chứa đầy không khí để thở khi phải ở dưới nước một thời gian. Còn việc đi trên mặt nước chính là các Ninja đã sử dụng được loại giày da bơm đầy khí. Tuy nhiên, để sử dụng được loại giày này, họ đã phải khổ công tập luyện nhiều năm mới đạt được sự thăng bằng và sự kiểm soát thân thể để có thể đứng vững trên mặt nước. Các Ninja cũng thường mang theo bên mình những ống thuốc nổ, khi túng cùng thì quăng ngay vào mặt địch thủ. Ống thuốc nổ tung, khói bay mù mịt, làm lóa mắt địch thủ trong giây lát và như thế Ninja có thể biến mất (hay tàng hình) trong đám khói mù y như các lão phù thủy vậy!

    Các Ninja thường rất mạnh khỏe và tập chạy nhảy, leo trèo rất kiên trì. Họ có thể nhảy rất xa và rất cao. Ngoài ra, có lúc Ninja đã dùng một đồ vật tượng trưng chiếc dù để nhảy từ nơi cao xuống một cách an toàn. Điều này giải thích các huyền thoại về khả năng bay của họ. Ninja cũng sử dụng một số dụng cụ giúp họ vào nhà, vào thành một cách dễ dàng. Họ mang những đôi giày xốp nên có thể bám vào tường hay vách đá mà leo lên. Một dụng cụ khác nổi tiếng của Ninjutsu là một miếng da cuốn chung quanh bàn tay và vòng qua cổ tay, có gắn sẵn bốn mũi nhọn lồi ra phía lòng bàn tay. Những mũi nhọn này có thể dùng để bám vào tường, vào xà nhà trên trần và chuyền tay đi qua một căn phòng mà chân không hề chạm đất. Miếng da này còn là một khí giới lợi hại khi đối mặt với kẻ thù. Một cú đâm thẳng bằng dao hay bằng gươm có thể dùng một tay để đỡ, tay kia đánh cả bốn mũi nhọn vào mặt địch thủ.

    Còn khả năng của các Ninja có thể chết đi rồi vài giờ sau sống lại chính là nhờ ở những kỹ thuật hạn chế hơi thở giống như môn Yoga của Ấn Độ. Thật vậy, một Ninja có thể ở dưới nước trong một thời gian mà không cần ống sậy hay túi khí trời, cũng như có thể giả chết để lừa đối phương chính là nhờ khả năng hạn chế hơi thở đặc thù của Ninjutsu. Khả năng hạn chế hơi thở của môn Ninjutsu còn cho phép họ đứng yên trong một lúc khá lâu, nhờ vậy mà có thể lẫn lộn vào các bụi cây hay các tảng đá và không động đậy để không bị kẻ địch khám phá. Do tính đặc thù của môn phái là gắn bó chặt chẽ với sứ mệnh đặc biệt quan trọng cho nên Ninjutsu đòi hỏi những môn đồ khi nhập môn phải hội đủ ba điều kiện: Ý thức trách nhiệm cao, trí phán đoán nhanh nhạy và một thân thể khỏe mạnh để có thể chịu đựng được quá trình tập luyện cũng như quá trình hành hiệp đầy gian lao nguy hiểm. Ngoài ra, Ninjutsu còn đòi hỏi các Ninja phải biết chết ngay tức khắc hay biết giết một đồng môn của mình, khi sa vào lưới của địch thủ và không có con đường đào thoát.

    Có thể xem những yêu cầu vừa nêu trên đã tạo cho Ninjutsu sắc thái trong giới võ lâm, tạo ấn tượng sâu sắc cho mọi người khi nghiên cứu về môn phái này. Nhưng cũng phải chăng chính yếu tố bảo mật này đã làm cho Ninjutsu hiện đại đã mất đi tính hấp dẫn như Ninjutsu truyền thống đã từng có?
    Trời mùa thu sao nghe u uất quá,
    Gió lạnh về, từng chiếc lá vàng rơi.
    Tôi bên ai những tưởng thu chưa tới,
    Vẫn trời hè, vẫn nồng ấm tình yêu!!!!!!!!
    Gửi tặng em , cô Thỏ của anh ạ


  2. #2

    cái Bang - sự thật và huyền thoại

    Lịch sử Cái Bang có thể nói là từ rất lâu đời, danh xưng “Thiên Hạ Đệ Nhất Bang” không phải tự nhiên mà có. Nhờ tinh thần quất cường và nhân số đông đảo, phái này luôn chiếm một vị trí đáng kể trong võ lâm Trung Nguyên. Danh tiếng trên Giang hồ của Cái Bang lừng lẫy hàng trăm năm, nhân tài Ngọa hổ tàng long, thời nào cũng có. Trong bốn bể Đông Tây Nam Bắc, nơi nào có ăn xin, nơi đó có Cái Bang. Những đệ tử trong bang thương yêu giúp đỡ nhau, chia sẻ mọi thứ, tạo nên một khối thống nhất luôn theo phò Chính nghĩa.

    Cái Bang là bang hội tập trung những tên ăn mày hành khất có rất đông hội viên, thường khoảng trên dưới vài chục vạn người thanh thế cực kì to lớn. Các đệ tử Cái Bang thường được chia theo đẳng cấp, mới gia nhập là cấp 1, đệ tử 1 túi rồi từ từ theo công lao và thời gian mà thăng cấp từ từ lên 2 , 3 , 4 ... Cao nhất là các trưởng lão 8, 9 túi rồi trên nữa là Phó Bang Chủ và Bang Chủ. Bang Chủ Cái Bang rất được quần hào trọng vọng vì là người nắm trong tay sinh mệnh của hàng vạn đệ tử. Người có thể chi phối hầu hết các lực lượng võ lâm chính phái cùng với phái Thiếu Lâm là lãnh tụ võ lâm Trung Nguyên. Một bên được ví với Thái Sơn, còn 1 bên là Bắc Đẩu của võ lâm.

    Trong lịch sử Cái Bang đã chịu nhiều khó khăn nhưng không quên mục tiêu của mình là tôn vinh chữ "nghĩa" và giúp người khó khăn. Vì vậy, Cái Bang trở thành môn phái gần gũi với dân nghèo và trở thành trung tâm của Bách Đạo dựa trên nền tảng sức mạnh của dân chúng.Tất cả mười ba thành đều là lãnh địa của Cái Bang. Dù cho đi đến đâu thì cũng có thể thấy ăn mày và trong số những ăn mày đó thì phần lớn là người của Cái Bang. Phần lớn đệ tử của Cái Bang đã làm cho Cái Bang trở thành môn phái mạnh nhất và Cái Bang được coi là "tai mắt của thiên hạ". Trong vô số những môn phái của giang hồ thì Cái Bang là môn phái có thế mạnh về tin tức nhất.Tất cả thu nhập của Cái Bang đều dựa vào việc xin ăn. Nhưng việc xin ăn này không phải là do bất hạnh hay vì miếng ăn đơn thuần. Mục đích xin ăn của Cái Bang là kết bạn và cuối cùng là ra tay nghĩa hiệp.

    Các đệ tử của Cái Bang có quyền học võ của bất kì môn phái nào, hay có thể được Bang Chủ truyền dạy võ công. Nhưng Cái Bang cũng có 2 môn Thần Công trấn phái là Hàng Long Thập Bát Chưởng cùng Đả Cẩu Bổng Pháp. Hai môn võ này được truyền tụng đời đời, các Bang Chủ chấp chưởng đại quyền đều phải biết 2 môn công phu này. Hàng Long chưởng có thể không biết nhưng nhất định phải thông thạo 36 chiêu Đả Cẩu Bổng. Suốt các đời Bang chủ luôn phải lãnh đạo Bang chúng hành hiệp trượng nghĩa, cứu khổ phò nguy đối phó ngoại xâm nội phản chống lại các thế lực ác độc của võ lâm. Vì vậy Cái Bang luôn có thanh thế rất lớn trên giang hồ và luôn nhận được sự kính trọng mến phục của đồng đạo võ lâm. Trong đó nổi tiếng nhất là Hồng Thất Công, bang chủ đời 18 của Cái Bang, người đã đạt đến cảnh giới 2 loại võ công trên.

    Lịch sử Cái bang:

    Theo lời kể của Hồng Thất Công, thì Cái Bang có lịch sử cũng khá lâu đời. Khoảng vào thời Đường sau khi Thiếu Lâm khai môn lập phái, vị Tổ Sư mở bang sáng lập bang phái cùng với 18 chiêu Hàng Long chưởng. Còn Đả cẩu Bổng pháp thì chưa được hoàn thiệ , truyền qua từng đời thì tới đời thứ 3 vị Bang chủ này thêm vào thành 36 chiêu Đả Cẩu Bổng hoàn chỉnh ...Truyền qua nhiều đời, thời cực thịnh của Cái Bang có thể là từ lúc Tiêu Phong tiếp nhiệm Cái Bang. Ông là vị Bang Chủ được đánh giá là tài ba nhất của Cái Bang với bao nhiêu công trạng to lớn lập được cho võ lâm Trung Nguyên và triều đình Đại Tống.

    Lực lượng Cái Bang lúc đó khoảng hơn 60 vạn người, tiếc thay anh hùng thường bị trời ghen ghét. Nên Tiêu Phong đoản mạng, lập tức Cái Bang như rắn mất đầu chẳng còn oai phong như khi xưa. Mãi tới khi Hồng Thất Công nắm quyền mới có thể khôi phục phần nào uy danh lừng lẫy của Bang phái năm xưa. Sau Hồng Thất Công là Hoàng Dung, vị Bang chủ nữ đầu tiên của Cái Bang từ khi mở bang (người thứ hai là Sử Hồng Thạch), cũng đã lập nhiều đại công tạo dựng lại thanh thế cho Cái Bang trên giang hồ. Rồi Lỗ Hữu Cước , Gia Luật Tề thay nhau tiếp nhiệm ... Qua nhiều năm , Cái Bang càng lúc càng suy vi, cho đến thời của Sử Hoả Long thì Hàng Long Thập Bát Chưởng thất truyền còn Cái Bang chỉ là 1 bang hội hạng 2 trên giang hồ ...

    Qua nhiều năm, cơ chế của Cái Bang có đôi chút thay đổi. Thời Bắc Tống , ngoài Tứ Đại Trưởng Lão Cái Bang còn có 2 vị trưởng lão là Truyền Công , Chấp Pháp , qua thời Nam Tống , các vị trưởng lão lại chia ra 2 phe : Áo Dơ , Áo Sạch và cũng chỉ còn 4 vị, đến thời Nguyên Minh chỉ còn 2 vị lãnh đạo cao nhất là Trưởng Bát Long Đầu và Trưởng Bảng Long Đầu cùng tên Chấp Pháp ...
    Các Bang Chủ Cái Bang qua các thời kì :

    - Uông Kiếm Thông : Bang chủ đời thứ 16
    - Tiêu Phong : Bang chủ đời thứ 17
    - Hồng Thất Công : Bang chủ đời thứ 18
    - Hoàng Dung : Bang chủ nữ duy nhất , đời thứ 19
    - Lỗ Hữu Cước : Bang chủ đời thứ 20
    - Gia Luật Tề : Bang chủ đời thứ 21

    Sau đó còn 2 vị là Sử Hoả Long , Giải Phong ( trong Tiếu Ngạo Giang Hồ ) : không rõ đời thứ bao nhiêu ...

    Hệ thống võ công:

    Ưu điểm của võ công Cái Bang là có tính thực dụng và thực tiễn cao. Không duy trì, giữ gìn lễ nghi và lề thói như những môn phái khác của Bách Đạo. Võ công của Cái Bang chuyên đánh lạc hướng đối phương, nên thoạt nhìn nó có vẻ lén lút hèn hạ. Thế nhưng, ẩn bên trong nó là triết lý của những bậc thầy không màng tới thế sự. Võ công Cái Bang không ảo diệu thâm thúy. Trong các loại võ công, võ công Cái Bang chỉ có mấy ưu điểm được bổ sung là mang tính lịch sử và truyền thống (Đả Cẩu Bổng Pháp hay Giáng Long Thập Bát Chưởng...). Do đó, hầu hết những đệ tử đều bị nguy hiểm vì chạy theo lợi ích lớn mà từ bỏ thân thể mình.

    1.Cái Bang Chưởng Pháp :

    Cao thủ Cái bang càng đánh càng dồi dào sức lực, khi sinh mạnh lâm nguy võ công được phát huy tới mức tột đỉnh.Đệ tử Cái bang thiện chiến giáp lá cà, đồng thời né tránh đòn đánh gần rất lanh lẹ. Những kẻ ra đòn nặng với đệ tử Cái bang đều phải chuốc lấy phần thiệt. Họ càng ra nhiều đòn liên hoàn, công lực càng tăng lên gấp bội và có thể kết liễu kẻ địch từ xa. Đến khi nhận ra ý đồ của họ, kẻ địch tiến thoái lưỡng nan, chạy trốn không được mà chống cự cũng không nổi.

    Võ công tuyệt học của Cái Bang Chưởng pháp là Hàng Long Thập Bát Chưởng, còn gọi là Giáng Long Thập Bát Chưởng, môn võ công trấn phái của Cái Bang. Giáng Long Thập Bát Chưởng được xem là 1 trong 3 chiêu thức lợi hại nhất võ lâm, cùng sánh ngang với tuyệt kỹ võ học của Thiếu Lâm và Võ Đang. Sau đây là tên 15 chiêu của Giáng Long Thập Bát Chưởng, 3 chiêu cuối của Giáng Long Thập Bát Chưởng tương truyền đã không còn hiện hữu giang hồ sau khi Hồng Thất Công rời Cái Bang mai danh ẩn tích, các bang chủ về sau của Cái Bang không ai có thể luyện được 3 chiêu này :

    1 . Kháng Long Hữu Hối
    2 . Phi Long Tại Thiên
    3 . Quần Long Vô Thủ
    4 . Tiềm Long Hốt Dụng
    5 . Bàn Long Thực Nhật
    6 . Song Long Xuất Hải
    7 . Đột Như Kì Lai
    8 . Lợi Thiệp Đại Xuyên
    9 . Kiến Long Tại Điền
    10. Hoặc Dược Tại Uyên
    11. Lý Sương Băng Chí
    12 . Hồng Tàm Ư Lục
    13 . Chấn Kinh Bách Lý
    14 . Thần Long Bãi Vĩ
    15 . Long Chiến Vũ Dã

    Bộ chưởng pháp này là võ công chí cương của thiên hạ, bao đời Bang Chủ Cái Bang nhờ nó mà thành danh giang hồ uy lực tuỳ theo người sử dụng.

    Trích dẫn từ lời tác giả Kim Dung:

    Những cao thủ về môn chưởng pháp này có thể kể là Tiêu Phong, Hồng Thất Công, Quách Tĩnh. Tiếc thay, từ sau thời Anh Hùng Xạ Điêu, vật đổi sao dời Hàng Long Chưởng cũng theo đó mà thất truyền cùng với sự suy vi của Cái Bang. Đến thời Gia Luật Tề thì chắc không học nổi toàn bộ, Quách đại hiệp đành phải gửi gắm hi vọng vào hậu thế trong thanh Ỷ Thiên kiếm... Nhớ lại sau này bang chủ Cái Bang Sử Hoả Long chỉ tập thành có 12 chiêu mà tiếc cho Tiêu Phong 1 thân anh hùng lại vùi thây nơi hiểm địa ...

    2.Cái Bang Bổng Pháp

    Đả Cẩu Bổng Pháp: Công nhận là tổ sư khai môn lập phái của Cái Bang thật lạ, một mặt sử dụng tên 1 con linh vật, Rồng để đặt tên cho chưởng pháp (Hàng Long thập bát chưởng) mặt khác sử dụng tên một con vật tầm thường, Cẩu để gọi môn Bổng Pháp chí bảo trấn bang...

    Như ta đã biết, Đả Cẩu Bổng Pháp gắn liền với cây Đả Cẩu Bổng danh lừng thiên hạ. Tương truyền tất cả các Bang Chủ Cái Bang khi tiếp nhiệm trọng trách đều được Bang Chủ tiền nhiệm dạy cho môn võ công thần diệu này. Nhưng có lẽ ít ai biết được hình dáng thực sự của cây Đả cẩu Bổng. Bởi nó dài 3 thước lẻ 7 phân, hình thẳng và làm bằng trúc xanh. Còn Đả Cẩu Bổng của Bang Chủ thì làm bằng Lục ngọ , có màu xanh như trúc vậy. Một cây gậy tầm thường như vậy nhưng lại có quyền lực tối cao, có thể sai khiến hàng vạn vạn Bang Chúng dưới quyền.

    Tiếp theo là bàn về Đả Cẩu Bổng Pháp, lộ Bổng Pháp này gồm 36 chiêu chia theo 8 chữ khẩu quyết : buộc, đập, trói đâm, khều, dẫn, khoá, xoay. Tuỳ tình hình địch thủ và gia số võ công mà sử dụng 1 trong 8 chữ khẩu quyết này là có thể khắc địch chế thắng. Điểm lợi hại của Bổng Pháp này là người võ công kém hơn khi đụng đối thủ mạnh cũng có thể chiến thắng nổi, chiêu thức Bổng Pháp biến ảo tinh diệu tuyệt kì. Có thể điểm sơ sơ qua vài chiêu:

    1. Ngao Khẩu Đoạt Trượng (dùng cướp gậy)
    2. Áp Thiên Cẩu Bối (khẩu quyết chữ Khoá)
    3. Bổng Đả Song Khuyển (chữ Đập)
    4. Bát Thảo Tầm Xà (chữ Đâm)
    5. Lục Phản Cẩu Điện (chữ Đâm )
    6. Bát Cẩu Triều Thiên ( chữ Khoá )

    Người có thể sử dụng thuần thục Đã Cẩu Bổng Pháp lại là nữ bang chủ duy nhất của Cái Bang, đồng thời cũng là bang chủ đời 19 của Cái Bang : Hoàng Dung.

    Nói đến Cái Bang là ta nói nghĩ ngay đến "Thiên Hạ Đệ Nhất Bang", nghĩ đến các nhân vật Hồng Thất Công, Kiều Phong (Tiêu Phong), Quách Tĩnh v.v.... Ngoài danh hiệu "Thiên Hạ Đệ Nhất Bang" ra, ta còn dễ dàng liên tưởng đến Giáng Long Thật Bát Chưởng, Đã cẩu bổng pháp. Đệ tử Cái Bang phân bố khắp nơi, đông tay nam bắc đâu có ăn xin, là nơi đó có phân đà của Cái Bang.

    Kết cấu bang phái:

    Cấp cao nhất, thống lĩnh bang phái: Bang chủ.

    Bang chủ lấy bốn biển làm nhà, ngao du đây đó, không cố định một nơi. Nguyên nhân 1 phần là do bang phái trải rộng khắp thiên hạ, nên bang chủ không thể ngồi một nơi mà quản lý bang hội, nên phải nay nơi này, mai nơi khác giám sát bang chúng. Tuy nhiên, vào mỗi đầu tháng phải đến Hồ Động Đình để họp cùng gặp các trưởng lão trong bang, xử lý những công việc quan trọng. Bang chủ Cái Bang võ công xuất chúng, lại ngày đây mai đó, nên hành hiệp trượng nghĩa khắp nơi. Rất nhiều người trong chốn giang hồ mang ơn bang chủ Cái Bang, vì thế rất được đồng đạo chốn giang hồ kính trọng.

    Dưới bang chủ là trưởng Lão. Ví dụ như truyền công trưởng lão (dạy võ công), chấp pháp trưởng lão, chưởng côn trưởng lão v.v.... Nhiệm vụ là giúp đỡ bang chủ xử lý công việc trong bang. Đảm đương chức vụ trưởng lão, phải là đệ tử 9 túi.

    Kế đến, đó là đệ tử 8 túi. Giữ cương vị hộ pháp trong bang. Thường gồm có 5 người, xưng là Ngũ Đại Hộ Pháp, gồm : Đông Đàng Hộ Pháp, Tây Đàng Hộ Pháp, Nam Đàng Hộ Pháp, Bắc Đàng Hộ Pháp, Trung Đàng Hộ Pháp. Nhiệm vụ của họ là phân công quản lý các phân đà ở 5 khu vực khác nhau của Trung Nguyên.

    Tiếp theo đó là đệ tử 7 túi, thường giữ chức vụ trưởng phân đà ở 1 thành thị nào đó, kế đến là dệ tự sáu túi, năm túi, bốn túi, ba túi, hai túi, một túi, và không có túi nào.
    Trời mùa thu sao nghe u uất quá,
    Gió lạnh về, từng chiếc lá vàng rơi.
    Tôi bên ai những tưởng thu chưa tới,
    Vẫn trời hè, vẫn nồng ấm tình yêu!!!!!!!!
    Gửi tặng em , cô Thỏ của anh ạ


  3. #3

    võ đang phái

    Lịch sử hình thành

    Trương Tam Phong, hay còn gọi là Trương Chân Nhân, tên lúc nhỏ là Trương Quân Bảo, tổ tiên gốc ở Long Hổ Sơn, tỉnh Giang Tây. Thuở nhỏ, ông theo học đạo Nho và đạo Lão. Từ nhỏ ông đã được mẹ gửi đi học võ tại chùa Thiếu Lâm. Nhưng trong thời gian học võ Trương Tam Phong đã có một số bất đồng với đồng môn nên đã bị đuổi khỏi Thiếu Lâm. Nhờ bản tính thông minh hơn người, nên Trương Tam Phong đã sử dụng võ công của Thiếu Lâm để tạo nên 1 loại võ công mới đó là Thái Cực Thần Công danh tiếng và xây dựng nên Võ Đang.

    Thái Cực Thần Công là loại võ công lấy nhu chế cương, lấy tĩnh chế động, lấy yếu thắng mạnh. Đây là loại võ công sử dụng lực đánh của đối phương vào mình để đánh trả lại. Thái Cực Thần Công được chia làm 2 loại là Thái cực kiếm và Thái cực quyền.

    Về người đã sáng lập ra nội gia quyền Võ Đang là Trương Tam Phong thì có hai thuyết do người thời Bắc Tống (960-1127) và người đầu thời Minh (1368-1644) đặt ra. Về lai lịch Trương Tam Phong sáng tạo ra nội gia quyền cũng có hai thuyết.

    Một thuyết bảo đêm ông nằm mộng thấy thần Chân Võ truyền dạy quyền pháp, sau khi trời sáng một người giết cả trăm giác vì thế mà kỹ thuật giao đấu võ thuật nổi tiếng ở đời.

    Một thuyết bảo Trương Tam Phong quan sát hạc và rắn đánh nhau, hạc từ trên cây xà xuống đánh con rắn dài nằm khoanh tròn. Rắn dài đang tĩnh chợt động, tránh né có hướng do đó Trương hiểu rõ tính "lấy tĩnh chế động, lấy nhu khắc cương" là một đạo lý.

    Vào Triều Nguyên, vua Huệ Tôn (Thuận Đế), niên hiệu Nguyên Thống (năm 1333) ông thi đỗ Mậu Tài (Tú Tài ngày nay) và làm quan Linh ở Trung Sơn và Bắc Lăng. Về sau ông bỏ DUT đường công danh để chu du thiên hạ.

    Ông đã từng theo học võ và Phật giáo tại Tung Sơn Thiếu Lâm Tự khoảng 10 năm.

    Vì nhận thấy võ thuật Thiếu Lâm Tự thuộc về cương quyền ngoại tráng, cho nên khi thành đạo sĩ tu luyện tại núi Võ Đang, ông đã khai sáng Võ Đang quyền pháp, với đặc tính nhu nhuyễn trong kỹ thuật, phối hợp với nội lực tĩnh luyện.

    Theo mục "Phương Kỷ Truyện" trong Minh sử có chép "" Trương Toàn Nhất có tên thật là Trương Quân Bảo, đạo hiệu là Trương Tam Phong dung mạo khôi ngô, thân giống rùa, lưng giống hạc, tai to, tròn mắt, râu cứng như kích. Dù trời nóng hay lạnh, Trương Tam Phong thường mặc một bộ áo quần, đầu đội nón, mỗi ngày ăn hơn một đấu gạo, và đi hơn trăm dặm đường.

    Ông cùng học trò đi chơi núi Võ Đang, vì thích phong cảnh nơi đây, ông đã lập ra Lều cỏ trên núi Võ Đang để tu luyện. Vua Minh Thái Tổ nghe tiếng vào năm Hồng Vũ thứ 14 tức năm 1382, có sai sứ đến tìm ông nhưng không gặp ".

    Theo Hoàng Tông Hy, một học giả đời Thanh cho rằng Trương Tam Phong sống vào đời Bắc Tống (950-1.275). Còn có thuyết cho rằng Trương Tam Phong sinh ngày 9 tháng 4 năm 1247, Triệu Nguyên, sống đến Triều Minh, thọ trên 200 tuổi. Theo Quốc Kỷ Luận Lược của Từ Triết Đông, những thuyết này không đáng tin cậy.

    Quá trình phát triển

    Cũng như triết lý Lão Trang và Kinh Dịch được áp dụng dẫn đạo thực hành. Môn quyền nổi danh nhất của Võ Đang phái là "Thái Cực Quyền" được Trương Tam Phong sáng chế vào thế kỷ 14.

    Theo sách "Thái Cực Quyền Luận" của Vương Tông Nhạc có ghi: "Những điều bàn luận trong sách này đều căn cứ vào tài liệu truyền dạy của Trương Tam Phong tiên sinh, để giúp hào kiệt trong thiên hạ, tăng thêm tuổi thọ, sống lâu, chớ không nghĩ đến chuyện dùng Thái Cực Quyền để làm phương tiện chiến đấu với kẻ địch".

    Trên dòng sông lịch sử dài dặc và chầm chậm chảy, đưa núi Võ Đang làm nơi bắt nguồn cho phái Võ Đang, đời đời mật truyền công phu nội gia Võ Đang trong Đạo giáo, đồng thời tiến thêm một bước càng thêm phong phú và phát triển mạnh. Cuối đời Thanh, đầu thời Dân quốc, khi lão đạo sĩ Từ Bản Thiện nhận làm Tổng đạo Kim Sơn cuối cùng của núi Võ Đang thì công phu nội gia quyền đạt tới cực kỳ cao trào. Từ đạo tổng vốn giỏi “Cửu cung Bát quái chưởng”, chuyên có “Thái cực kiếm”, “Võ Đang quyền”, “Huyền vũ côn” v.v...

    Trải qua diễn biến mấy trăm năm, công phu nội gia của Võ Đang từ bài nhập môn sơ đẳng nhất, năm bài mười ba thế quyền dần dần phong phú lên như: Võ Đang đồng tử công, Huyền Võ côn, Tam hợp đao, Long môn thập tam thương v.v...Kungfu Võ Đang được coi là một trong những đại môn phái của võ thuật truyền thống Trung Hoa, nếu xét về bề dày lịch sử cũng như kho tàng võ học thì chỉ sau võ thuật Thiếu Lâm mà thôi.

    Đặc trưng


    Quyền Võ Đang là võ thuật giao đấu, lại dung hợp các giáo nghĩa của Đạo giáo như “lấy mềm yếu thắng cứng mạnh”, “xử hiền giữ mềm mỏng” ...

    Xét từ công phu tập luyện đã quán thông các phương pháp tu luyện của Đạo giáo như ngưng thần chuyên ý, ý khí cung dụng v.v.. Quyền pháp, kiếm thuật Võ Đang về sau trở thành nội dung trọng yếu của giáo đồ đạo giáo tu hành theo tôn giáo, thể ngộ ý nghĩa của tôn giáo, đồng thời còn dùng để làm khỏe mạnh thân thể.

    Đệ tử Võ Đang không bắt buộc phải ăn chay nhưng nếu không ăn chay thì sẽ không được tiếp nhận chức chưởng môn. Đệ tử Võ Đang đa số là nam giới.

    Võ Đang còn có một môn quyền pháp rất nổi tiếng trong giới võ lâm Trung Hoa là Bát Quái chưởng, có người gọi nó là Bát Quái quyền, nhưng không nên lẫn lộn nó với Bát cực quyền của Bắc Thiếu Lâm.

    Võ Đang phái, còn gọi là Võ Đang quyền sau này trong dân gian gọi là Nội gia quyền được mở rộng nội dung bao gồm các loại quyền thuật sau:

    Võ Đang quyền nguyên thủy của Võ Đang, sau này tục gọi là Nội gia quyền ám chỉ tất cả các loại quyền pháp của Võ Đang sau luôn cả thời Trương Tam Phong chế tác - như được liệt kê trong phần dưới đây.

    Võ Đang Hình Ý quyền không nên lẫn lộn với Hình Ý quyền hay Lục Hợp Quyền (còn gọi là Tâm ý bả) của Thiếu Lâm.

    Tượng Hình Quyền, còn được gọi là Hình Ý Linh Thú quyền còn bị diễn dịch là Hình Ý quyền gây nhầm lẫn sau này.

    Võ Đang Bát Quái chưởng

    Thái Cực quyền Trần gia của làng Trần gia câu sau này được tích hợp lại và cải biến đi, không phải do Trương Tam Phong sáng tác ra.

    Thái Cực Khí công tục gọi là Thái Cực Thần công do Trương Tam Phong chế tác.
    Trời mùa thu sao nghe u uất quá,
    Gió lạnh về, từng chiếc lá vàng rơi.
    Tôi bên ai những tưởng thu chưa tới,
    Vẫn trời hè, vẫn nồng ấm tình yêu!!!!!!!!
    Gửi tặng em , cô Thỏ của anh ạ

  4. Được thích 5 lần:


  5. #4
    em thấy môn vovinam có vẻ rất hay phải không ạ ?

  6. #5
    Quote Nguyên văn bởi duongnguyen_94 Xem bài viết
    em thấy môn vovinam có vẻ rất hay phải không ạ ?
    mỗi môn đều có 1 cái hay riêng của nó chứ ko phải riêng vovinam đâu em và cái hay đó còn tùy thuộc vào việc em thích võ ở diểm nào nhất. nếu như em thích các đòn bay người tấn công thì chắc chắn vovinam và taekwônd là lựa chọn tuyệt vời. nếu như em muốn 1 môn võ tạo sự cương mãnh trong từng đòn thế thì thiếu lâm, karate, tán thủ, muay là phù hợp nhất. còn nếu em muốn 1 môn võ nhẹ nhàng, uyển chuyển thì tập wushu, hồ việt quyền, thu vân võ đạo, là tốt nhất rồi. còn nếu như thích ứng dụng thực tế thì có lẽ môn nào cũng có thể ứng dụng dc tất em ạ
    Trời mùa thu sao nghe u uất quá,
    Gió lạnh về, từng chiếc lá vàng rơi.
    Tôi bên ai những tưởng thu chưa tới,
    Vẫn trời hè, vẫn nồng ấm tình yêu!!!!!!!!
    Gửi tặng em , cô Thỏ của anh ạ

  7. #6

    Hapkido - Hiệp khí đạo Đại Hàn

    Hapkido là môn võ nổi tiếng của Triều Tiên sau Taekwondo và còn được coi là môn võ khắc chế môn Taekwondo.

    Xuất xứ:

    Khi Triều Tiên còn là nước Silla nhỏ bé dưới sự đô hộ của nhà Đường (Trung Quốc), người dân Triều Tiên đã cải biên môn Tang Su (Đường Thủ) thành môn võ của Triều Tiên là Tae Kyon (tiền thân của môn Taekwondo hiện nay).

    Đạo quân Hwa Rang anh dũng với môn Tae Kyon đã giải phóng và thống nhất Triều Tiên năm 668. Từ ý đồ quân sự hóa toàn dân để Silla trở thành một lãnh thổ bất khả xâm phạm, môn Tae Kyon đã được truyền bá và tự do phát triển một cách mạnh mẽ. Mỗi người dân bình thường đều có thể tập luyện và trở thành một cao thủ Tae Kyon. Thế rồi, nhiều cuộc xô xát đã xảy ra giữa ngự lâm quân và các cao thủ bên ngoài mà phần thua thường thuộc về quân triều đình. Nhận ra đây là mối hiểm nguy đối với hoàng gia, nhà vua hạ chiếu chỉ tập trung hết các võ sư trong nước về giam lỏng và buộc phải nghiên cứu sáng tạo ra một loại võ công mới, có tác dụng khắc chế được các đòn thế của môn Tae Kyon.

    Hơn 3 năm ròng rã, các võ sư vừa sung sướng vừa khổ tâm khai sinh một đứa con tinh thần nữa: Hapkido ra đời để khắc chế người "anh cả" Tae Kyon.

    Những Nét Đặc Thù:

    Ngoài các đòn triệt, phá, niêm nhằm chế ngự các đòn đá của Tae Kyon, đòn thế của Hapkido vẫn mang nhiều nét đồng dạng với Tae Kyon và có khuynh hướng trở về với bản gốc Tang Su (Đường Thủ). Nhưng kỹ thuật triệt, phá, niêm đòn của Hapkido vô cùng lợi hại, dứt khoát (đánh gãy tay, xỉa thủng mắt, đạp gãy chân trụ địch thủ một cách không thương tiếc"). Thủ pháp gần giống Thiếu Lâm Bắc phái nhưng đơn giản hơn. Nắm đấm ít được dùng mà được thay thế bằng lòng bàn tay (chang, chưởng) gốc lòng bàn tay, nắm tay quỷ, ngón tay"

    Các mục tiêu nằm trên người đối phương gồm 3 điểm chính: mắt, cổ, hạ bộ. Hapkido rất đa dạng với nhiều tính năng tương tự: Thiếu Lâm, Taekwondo, Karate, Judo, Aikido. Ngoài ra Hapkido còn dùng binh khí như côn, gậy, dù

    Hapkido, môn võ được coi là gần gủi nhất với Aikido qua những đòn thế quật, bẻ khớp, quăng, cuốn, té v.v rất ấn tượng đặc thù của “môn võ tình thương” Nhật Bản. Người Việt nam chúng ta ít nghe đến môn Hapkido vì sự lớn mạnh quá nhanh của Taekwondo (Thái Cực Đạo) trên đất Việt Nam, nhiều người vẫn lầm tưởng Hapkido là 1 chi phái của Taekwondo. Cho đến đầu năm 1989 một phái đoàn chính thức của Hapkido Đại Hàn được sang biểu diễn lần đầu tiên tại sân Phan Đình Phùng (Sài gòn), những người yêu thích võ thuật tại Việt Nam bắt đầu gọi môn Hapkido là ‘HIỆP KHÍ ĐẠO ĐẠI HÀN’ để phân biệt với Hiệp Khí Đạo Nhật Bản với tên gọi chính thức là Aikido.

    Lược sử nguyên thủy của môn võ Hapkido đến nay vẫn có đôi phần còn bí ẩn:

    Một truyền thuyết cho rằng Hapkido có nguồn gốc từ thế kỷ thứ 7 tại vương triều nước Triều Tiên (Hiện nay có tên là Đại Hàn, Korea), giới Hiệp Sĩ quý tộc Hwa-Rang xuất hiện như một tầng lớp đầu tiên chính thức nghiên cứu và tập luyện các đòn thế Hapkido ở xứ này dưới tên như ‘Yu Kwon Sul’ , ‘Yu Sool’, ‘Ho Shin Mu Do’, và ‘Bi Sool’. Đến lúc này thì Hapkido hoàn toàn là những đòn cương mãnh rất quen thuộc trong dòng võ thuật Triều tiên. Nhưng sau đó chính các tầng lớp các vị sư Phật giáo đã pha với những tinh túy võ thuật từ dòng Phật giáo Trung Hoa tràn sang, bằng cách pha chế các đòn ‘cầm nã thủ’ đặc thù của các Bắc phái Thiếu Lâm. Nhiều nhà võ sử Hàn Quốc vẫn coi tổ sư của Hapkido là võ sư Tae-Kyun, vị khai sáng ra ngành Hapkido nguyên thủy phối hợp giữa cương và nhu đầu tiên của Đại Hàn, đất nước thuần chuộng các môn võ có tính cách mạnh bạo, và chuộng cước hơn quyền.

    Lịch sử cận đại của Hapkido cho thấy có 2 trường phái chính, đó là Võ Sư Choi Yong Sul và Võ Sư Ji Han Jae, vì sự phân chia quá sâu rộng trong nền lịch sử võ thuật của Đại Hàn nên khó phân biệt trường phái nào hoặc người nào chính thức là người đã đầu tiên khai triển môn Hapkido hiện đại, mặc dù không ai dám phủ nhận sự đóng góp của cả 2 vị võ sư trên cho sự lớn mạnh của Hapkido khắp thế giới hiện nay, nên mọi tài liệu chính thức của Hapkido ghi nhận 2 vị Võ Sư Choi Yong Sul và Võ Sư Ji Han Jae là đồng chưởng môn Hapkido hiện đại.

    Võ Sư CHOI, YONG SUL:

    Võ sư Choi Yong Sul có công trong việc thu nhập, phục hồi những thế nguyên thủy của Hapkido chính gốc. Sinh năm 1904 ở thị trấn Yong Dong , tỉnh Choong Chung , gần Taegue , Hàn Quốc . Năm 1909 , Hàn Quốc bắt đầu chịu sự chiếm đóng của người Nhật . Năm 7 tuổi , Choi đã bị quân đội Nhật bắt sang Nhật phục dịch. Đây là thông lệ rất phổ biến vào thời điểm đó , lực lượng chiếm đóng Nhật Bản đã bắt những đứa trẻ Hàn Quốc sang Nhật để lao động các công việc khác nhau. Sang Nhật Bản, trốn và sống lang thang ngoài đường phố bằng đủ thứ nghề từ ăn sinh, phụ bàn, đánh giày. Như một định mệnh , Choi được gán làm việc cho Sokaku Takeda (1860-1943) , chưởng môn đời thứ 32 của Daito Ryu Aikijitsu , lúc đó Takeda đã 44 tuổi . Choi được đặt cho một cái tên Nhật , Yoshida Asao, được xem như là tên mà Choi sử dụng trong suốt thời gian sống ở Nhật , tuy nhiên nó không phải hoàn toàn là 1 cái tên Nhật . Vì vậy , cái tên này chỉ mang tính lịch sử tương đối và vẫn còn nhiều sự nghi ngờ khi bàn về lịch sử Hapkido. Choi đã khổ công tập luyện trên 30 năm. Từ Khởi điểm đó Hapkido mới có được những đòn Nhu thuật và Hiệp khí nhu thuật như hiện nay. Trở về nước vào giữa thập niên 1940, Võ sư Choi Yong Sul bắt đầu dạy thứ võ thuật mà ông gọi là ‘Yoo Sool’, thay gì gọi là Ju-Jitsu, chỉ vì lúc đó dân Đại Hàn với lòng căm thù không đội trời chung, không muốn dính dáng gì đến Nhật Bản. Nói một cách trung thực, Võ sư Choi Yong Sul suốt đời hành võ đã đem đến cho môn phái Hapkido các đòn thế đặc sắc của môn võ Daito-Ryo Aiki-Jutsu có từ xưa của Nhật Bản.

    Như một định mệnh rất tình cờ, Giám đốc sản xuất rượu bia đầy thành công tên Suh Bok Sup, một đai đen nhất đẳng Nhu thuật Nhật Bản, năm 1948 , chàng thanh niên 24 tuổi Suh đã chứng kiến người đàn ông nhỏ con nhìn đầy nét Nhật Bản tên Choi đã oanh liệt chiến đấu một mình để chống rất nhiều người tất công vây quanh. Với các kỹ thuật đẹp mắt Choi rất nhanh ng khắc chế đối thủ. Ấn tượng với những kỹ thuật của Choi, Giám đốc Suh đã mời Choi đến văn ph*ng của mình và hỏi thăm về kỹ thuật của Choi chiến đấu của ông ta. Sau cuộc gặp gỡ này Suh đã mời Choi vào làm trong xưởng sản xuất của mình, và ngược lại chỉ xin Choi đã dạy cho mình những kỹ thuật chiến đấu rất thực dụng mà anh đã được hạnh kiến.

    Suh Bok Sup đã là người giúp đỡ Choi mở trường dạy kỹ thuật tự vệ đầu tiên tại thủ đô Hán thành, chính thức được gọi là môn phái Hapkido vào tháng 2 năm 1951. Suh cũng là môn sinh đai đen đầu tiên của Choi, cùng với những kiến thức trong Ju-Jitsu, Suh đã bổ sung những kiến thức này cho hệ thống Hapkido rất nhiều những kỹ thuật túm, kéo ống tay áo, vai áo, quăng liệng căn bản được dùng trong Hapkio, có thể tìm thấy từ Ju-Jitsu hoặc Judo. Tuy nhiên đến lúc nầy Hapkido chỉ và vẫn được biết đến như một môn võ gia truyền trong dòng võ lớn của Hàn Quốc.

    Võ Sư JI, HAN JAE:

    Võ Ji Han Jae, một Võ sư được biết nhiều đến vì tài năng đóng phim và đem đến cho Hapkido sự nổi tiếng khắp năm châu, vì các đòn Hapkido tuyệt đẹp của ông dùng trong phim ảnh trong suốt thập niên 60, 70. Nhất là thời gian đóng chung với những phim của tài tử Lý Tiểu Long. Là một cao đồ của võ sư Choi Yong Sul, Ji học võ với võ sư Choi từ năm 1949. Khi được 18 tuổi, Ji đã từng luyện học tập các môn võ cổ truyền trước khi thụ huấn môn Hapkido truyền thống, Vào đầu thập niên 1960, với sực giúp sức của môn đồ là Kim Soo Wong, Võ sư Ji Han Kae đầu tiên chính thức hoàn thành học trình chính thức đầu tiên cho môn phái Hapkido, và có công rất lớn khi đưa các môn sinh của mình trải dài trên khắp mọi lục địa để truyền bá Hapkido.

    Căn bản của môn phái Hapkido đặt trên 3 nền tảng nguyên lý chính:

    A. Mọi kỷ thuật dựa và đi trên tiến trình vòng tròn, mọi lực khi từ đối phương đến mình phải biến bằng cách đẩy nó theo vòng tròn (circular motion) và phá giải bằng lực ly tâm.

    B. Mọi chiến thuật, phải dựa trên căn bản của con nước, tức là mềm mại khi đối đầu với địch thủ, uốn theo chiều tấn công đối phương. Như con nước khi dồn nhiều thành con nước lủ phá phá vỡ mọi thành trì của đối phương khi có cơ hội.

    C. Tốc độ phải luyện nhanh như tia chớp, không để đối phương kịp phản ứng kịp khi dùng những kỷ thuật liên hoàn tầm xa dứt điểm trận đấu.


    Nhiều người cho rằng, môn Hapkido là khắc tinh của Taekwondo, nói như vậy chỉ là một cách nói rất phiến diện, đầy méo mó, chưa đi sát với đòn thế của môn Hapkido hay chỉ được thấy hoàn toàn qua phim ảnh. Có thể nói Hapkido có nhiều đòn thế khi chiến đấu có thể gây rối loạn, dung hòa với một đối thủ mạnh đặc thù về đòn chân như Taekwondo. Hapkido chính là một sự kết hợp hài hòa của ba môn phái nổi danh Taekwondo, Aikido, và Ju-jitsu. Khi tấn công, Hapkido nặng về Taekwondo, với các đòn đá tầm xa, mạnh bạo và lợi hại; khi ph*ng thủ thì dùng các đòn Ju-Jitsu, với kỹ thuật nhẹ nhàng né trách dùng ‘nhu chế cương, nhược thắng cường’; khi phản đòn thường dùng những kỹ thuật với Aikido để giảm bớt tối đa các lực trấn áp của đối phương với các kỷ thuật tiến thối vòng tròn. Tùy hoàn cảnh mà Hapkido thiên về một môn phái cụ thể hoặc kết hợp cả ba. Đặc biệt cho những đòn thế tự vệ, Hapkido sử dụng nhiều kỹ thuật Aikido pha lẫn với Ju-Jitsu. Người ta dễ dàng tìm thấy hình ảnh của Aiki-Budo qua sự luyện khí của đòn thế Hapkido cao cấp, nhất là trong phần tập khởi động nóng người.

    Ngoài quyền, cước và các đòn thế như đã trình bày, nhiều môn vũ khí được tập luyện và sử dụng trong môn Hapkido, như gậy, tiểu côn, song côn, dây, kiếm, dao găm v.v.. Tất cả các loại vũ khí chỉ dành cho các đẳng cấp sau huyền đai (đai đen). Những món vũ khi được luyện tập không ngoài giúp và chuẩn bị cho người tập Hapkido có khả năng dùng mọi thứ vũ khí trong luật định quốc gia cho phép để tự vệ khi bất khả kháng như dây thắt lưng, chía khoá, gậy đi đường, dù che.

    Riêng tại Việt Nam, từ năm 1965 thời cao điểm của cuộc chiến Việt Nam, Võ sư Kim Jin Pal, một cao đồ của Võ Sư Ji Han Jae từ Seoul, Đại Hàn. Được sang Việt Nam trong Phái Bộ Điều Tra Tội Ác của chính phủ Nam Hàn (The Republic of Korea Criminal Investigation Division). Trong thời gian tòng sự, ông áp dụng khả năng võ học của ông và lập nhiều thành tích đáng kể, nhất là huấn luyện cho toán đặc nhiệm bảo vệ toà Đại Sứ Đại Hàn. Đầu tiên ông tập trung được một nhóm môn đệ bản xứ và lập Võ đường Nguyễn Huỳnh Đức với tòa nhà 6 tầng khá rộng trực thuộc toà Đại Sứ Đại Hàn, trong 5 năm huấn luyện không hề mệt mỏi ông đã có trên 1000 môn sinh và thành lập (không chính thức) ‘Tổng Hội Hapkido Việt Nam’. Năm 1970, cùng với sự rút quân từ từ của Hoa Kỳ và Đồng Minh ra khỏi Việt Nam, Võ Sư Kim đã ngậm ngùi để võ đường ở Sàigòn lại cho Bác sĩ Phạm Gia Cổn tiếp tục sự nghiệp truyền bá Hapkido tại Việt Nam. Hiện nay Bác Sĩ Phạm Gia Cổn là võ sư 9 đẳng huyền đai, giảng sư y khoa UCLA, sinh sống và tiếp tục huấn luyện Hapkido tại Quận Cam, trực thuộc hệ thống Jin Pal Hapkido (Jin Pal Hapkido Martial Arts Federation), tạo nên 1 trường phái Hapkido lớn mạnh khắp suốt Hoa Kỳ và thế giới.

    Hiện tại tại Hàn Quốc nơi khai sinh ra Hapkido, Hapkido đến giờ nầy vẫn chưa có được 1 liên đoàn chính thức đại diện trên thế giới như các môn phái bạn Taekwondo, Karate, Judo v.v.. được thành lập cùng thời, nhiều trường phái với những đặc tính riêng biệt làm cho người tập Hapkido đôi lúc phải vô cùng khó khăn khi phân biệt sự tương và khắc giữa các chi phái, rất nhiều lần Hiệp hội võ thuật chính thức của chính phủ Hàn Quốc đã đứng ra tổ chức các cuộc hợp khoáng đại để giải quyết và thống nhất môn Hapkido thành một liên đoàn duy nhất. Nhưng chuyện đó còn phải cần thời gian khá xa trong 1 quốc gia mà nền võ thuật ngự trị trong khuôn khổ ‘phép vua thua lệ làng’.
    Trời mùa thu sao nghe u uất quá,
    Gió lạnh về, từng chiếc lá vàng rơi.
    Tôi bên ai những tưởng thu chưa tới,
    Vẫn trời hè, vẫn nồng ấm tình yêu!!!!!!!!
    Gửi tặng em , cô Thỏ của anh ạ

  8. Được thích 3 lần:


  9. #7
    mấy anh có vẻ am hiểu võ thuật Nhật Bản ghê,nhưng sao hok ai nhắc đến kiếm thuật Nhật Bản zậy?kendo ý

  10. #8

    giới thiệu về kendo đây :)

    Kendo: Ken có nghĩa là kiếm, Do có nghĩa là đạo; Kendo -Kiếm đạo hay Đường của kiếm.), là một môn võ thuật đánh kiếm hiện đại của Nhật Bản, phát triển từ các kỹ thuật truyền thống của kiếm sĩ Nhật như kenjutsu. Từ năm 1975, mục đích của Kendo được phát triển bởi Liên đoàn Kendo Nhật Bản để "chuẩn hóa các đặc điểm con người thông qua việc ứng dụng các nguyên tắc của Katana (Kiếm cầm tay tiêu chuẩn của Nhật Bản)" Tuy nhiên, Kendo kết hợp các giá trị võ thuật với các yếu tố thể thao, có người luyện tập ưa thích phần võ thuật cũng có người chuộng phần thể thao

    Lịch sử

    Khi nhìn lại lịch sử của Kendo, có nhiều mốc quan trọng mà chúng ta không thể bỏ qua.

    Điểm đầu tiên là sự hình thành của kiếm Nhật. Kiếm Nhật có hình dạng như ngày nay được xuất hiện vào khoảng giữa thế kỷ thứ 11 (Giữa thời kỳ Heian (794-1185), nó có lưỡi sắc bén với sống hơi cong lên (được gọi là Shinogi). Nguyên bản của nó có lẽ được mô phỏng từ vũ khí của những người kỵ binh trong cuộc chiến tranh ở phía bắc Nhật Bản trong suốt thế kỷ thứ 9. Kể từ đó, kiếm Nhật được sử dụng rộng rãi và kỹ thuật rèn kiếm cũng được phát triển một cách nhanh chóng trong suốt giai đoạn đầu của thời đại các Samurai (Cuối thời kỳ Kamakura ở thế kỷ thứ 13).

    Sau khi cuộc chiến tranh Onin xảy ra vào nửa cuối thời kỳ Muromachi (1392-1573), nước Nhật đã rơi vào tình trạng hỗn loạn suốt hơn 100 năm. Trong suốt giai đoạn này, rất nhiều võ đường dạy Kenjutsu đã được thành lập. Vào năm 1543, súng trường đã được mang vào Tanegashima (một hòn đảo nằm ở phía cực nam của Nhật Bản). Kiếm Nhật lúc đó vẫn được rèn theo phương pháp đúc Tatarafuki với bột sắt chất lượng cao thu được trên những bãi bồi ven sông. Tuy nhiên không lâu sau đó, một số lượng súng lớn cũng được sản xuất ra thành công nhờ sử dụng loại bột sắt này với cùng phương pháp đúc. Với kết quả này, những cuộc chiến với giáp trụ nặng dù chiếm ưu thế trước đó nhưng nay đã nhanh chóng chuyển sang những cuộc đối đầu tay đôi nhẹ hơn. Từ những kinh nghiệm chiến đấu thực tế như vậy đã dẫn đến sự phát triển và chuyên môn hoá cho việc rèn kiếm cũng như những kỹ thuật rèn kiếm bằng tay một cách tinh xảo và những kỹ thuật này vẫn được lưu truyền cho đến ngày nay thông qua các võ đường, các lò khác nhau, chẳng hạn như phái Shikage-ryu và phái Itto-ryu.

    Nhật Bản bước vào giai đoạn tương đối thanh bình bắt đầu từ giai đoạn đầu của thời kỳ Edo (1603-1867). Trong suốt giai đoạn này, kiếm thuật đã được chuyển biến từ những kỹ thuật giết người sang việc phát triển hoàn thiện con người thông qua tư tưởng (đạo), ví dụ như Katsunin-ken không chỉ bao hàm những lý thuyết về những đường kiếm mạnh mẽ mà nó còn bao hàm những tư tưởng về đời sống kỷ luật của các Samurai. Những tư tưởng này đã được biên soạn công phu, tỉ mỉ trong những cuốn sách nói về nghệ thuật chiến đấu ở giai đoạn đầu của thời kỳ Edo. Ví dụ như: cuốn Heiho Kadensho của Yagyu Munenori; cuốn Fudochi Shinmyoroku của Priest Takuan và được giải thích lại rõ ràng trong cuốn sách của Yagyu Munenori là “Ken to Zen” (Kiếm pháp và Phật giáo); hay như cuốn “Gorin-no-sho” của Miyamoto Musashi. Ngoài ra còn có rất nhiều cuốn sách khác về những học thuyết kiếm đạo được phổ biến trong suốt giai đoạn giữa và nửa cuối của thời kỳ Edo. Rất nhiều trong số đó đã trở nên kinh điển và có ảnh hưởng lớn đến những người tập Kendo ngày nay

    Những cuốn sách này được phổ biến nhằm truyền đạt đến các Samurai sống mà không quan tâm đến cái chết. Các Samurai đã hàng ngày nghiên cứu những cuốn sách và được truyền đạt những tư tưởng này, sống một cuộc sống khổ hạnh, trao dồi tu dưỡng tư tưởng và dâng hiến bản thân mình cho cái hay, cái đẹp của võ đạo, học để phân biệt giữa cái đẹp và cái xấu, học để trong trường hợp khẩn cấp sẵn sàng dâng hiến sinh mạng của mình cho gia tộc và chủ nhân của mình. Tinh thần Bushido (võ sỹ đạo) được hình thành trong suốt giai đoạn này và được phát triển trong suốt 246 năm thanh bình của thời kỳ Tokugawa. Thậm chí sau sự sụp đổ của chế độ phong kiến, tinh thần võ sỹ đậo đó vẫn tồn tại trong tư tưởng của người Nhật Bản.

    Khi giai đoạn hoà bình vẫn được tiếp tục, trong khi Kenjutsu phát triển thêm nhiều kỹ thuật đẹp mắt mới được đúc kết từ những kỹ thuật chiến đấu thực tế, Naganuma Shirozaemon-Kunisato của phái Jiki-shinkage đã thành lập và phát triển ra một kỹ thuật đánh kiếm mới. Trong suốt thời kỳ Shotoku (1711-1715) Naganuma đã phát triển ra Kendo-gu (các phương tiện bảo vệ) và sáng lập ra phương pháp huấn luyện sử dụng Shinai (kiếm tre). Đây chính là tiền thân của Kendo ngày nay. Sau đó, trong suốt thời kỳ Horeki (1751-1764), Nakanishi Chuzo-kotake của phái Itto bắt đầu phương pháp huấn luyện sử dụng Men bằng sắt (Men-mũ bảo vệ đầu) và Kendo-gu được làm bằng tre, phương pháp này đã nhanh chóng trở nên thông dụng trong các võ đường chỉ sau một thời gian ngắn. Trong thời kỳ Kansei (1789-1801), các cuộc thi đấu giữa các võ đường đã trở nên phổ biến và các Samurai thường đi ra các vùng bên ngoài để tìm kiếm những đối thủ mạnh hơn nhằm hoàn thiện kỹ năng của mình.

    Trong nửa cuối của thời kỳ Edo (bắt đầu từ thế kỷ thứ 19), nhiều loại dụng cụ tập luyện mới đã được sáng tạo ra ví dụ như Yotsuwari Shinai (Kiếm tre được ghép lại từ bốn thanh tre). Cây Shinai mới này có độ co dãn tốt hơn, bền hơn và nó đã được dùng thay thế cho Fukuro Shinai (kiếm tre theo đúng nghĩa đen và có bao kiếm bên ngoài). Đồng thời, Do (Giáp che cơ thể) đã được gia cố thêm bằng da và được quét sơn bên ngoài. Trong thời kỳ này có 3 Dojo (võ đường) lớn được biết đến như là “3 võ đường lớn của thời kỳ Edo - Three Great Dojos of Edo”, đó là Genbukan được dẫn dắt bởi Chiba Shusaku, Renpeikan được dẫn dắt bởi Saito Yakuro và Shigakkan được dẫn dắt bởi Momoi Shunzo. Chiba cố gắng hệ thống hoá các kỹ thuật tập luyện (Waza) của kiếm tre từ 68 kỹ thuật của Kenjutsu, những điểm được cho là nổi bật nhất. Những kỹ thuật này như là Oikomi-men và Suriage-men và rất nhiều các kỹ thuật khác được đặt tên bởi Chiba vẫn đang được sử dụng cho đến ngày nay.

    Sau cuộc cách mạng Meiji năm 1868, tầng lớp Samurai đã bị xoá bỏ và việc đeo kiếm đã bị cấm. Với kết quả này, rất nhiều các Samurai đã bị không có việc làm và Kenjutsu đã suy tàn một cách nhanh chóng. Sau đó, cuộc xung đột Seinan bắt đầu vào năm thứ 10 của thời kỳ Meiji (1877), đó là sự khàng cự của các Samurai chống lại Chính phủ nhưng đã không thành công, tuy nhiên nó được xem như đã mang lại sự phục hồi của Kenjutsu ngay chính trong lòng lực lượng cảnh sát thủ đô Tokyo. Vào năm thứ 28 của thời kỳ Meiji [1829], tổ chức Dai-Nippon Butoku-Kai được thành lập với tư cách là một tổ chức quốc gia để đẩy mạnh sự phục hồi của Bujutsu trong đó có cả Kenjutsu. Trong khoảng thời gian 1899, Bushido, được coi như là những tài liệu về các suy nghĩ và triết lý của các Samurai, đã được phổ biến và dịch sang tiếng Anh. Nó đã có sức thuyết phục và ảnh hưởng trên toàn thế giới.

    Trong năm đầu tiên của thời kỳ Taisho [1912], tổ chức Dai-Nippon Teikoku Kendo Kata (sau đó được đổi tên thành Nippon Kendo Kata) được thành lập và sử dụng từ Kendo. Sự thành lập của Kendo Kata đã đem lại sự thống nhất rất nhiều võ đường, nhằm mang lại tồn tại và phát triển các kỹ thuật và tinh thần của kiếm đạo Nhật Bản, đồng thời để đưa ra những biện pháp sửa những lỗi sai do sử dụng tập luyện kiếm tre và chuẩn hoá những điểm đánh không đúng. Nó cũng nhấn mạnh rằng kiếm tre được thay thế cho kiếm thật trong tập luyện và cũng phải được đối xử như kiếm thật.

    Sau chiến tranh thế giới thứ 2, Kendo đã bị tạm dừng dưới sự chiếm đóng của quân đồng minh. Trong năm 1952, khi Liên đoàn Kendo Nhật Bản(All Japan Kendo Federation) được thành lập, Kendo mới sống lại và tiếp tục phát triển. Kendo ngày nay đóng vai trò quan trọng trong sự giáo dục ở trường học và rất nhiều người già, trẻ, gái, trai đều yêu thích, có hàng triệu người ở mọi lứa tuổi đang tham gia tập luyện Kendo đều đặn . Ngoài ra, Kendo cũng đang được yêu thích trên toàn thế giới, có ngày càng nhiều người tập Kendo tại các nước. Liên đoàn Kendo quốc tế (The International Kendo Federation – FIK) được thành lập vào năm 1970 và giải Vô địch Kendo Thế giới được tổ chức 3 năm một lần và lần đầu tiên tại Nippon Budokan trong cùng năm đó. Vào tháng7 năm 2003, giải Vô địch Kendo Thế giới lần thứ 12 được tổ chức tại Glasgow, Scotland. Những người tập Kendo đến từ 41 quốc gia và các vùng lãnh thổ khác nhau

    Dụng cụ tập luyện

    Thanh kiếm tre shinai được dùng thay thế cho thanh kiếm Nhật Katana trong tập luyện và nó được làm từ bốn thanh tre ghép lại, giữ chặt với nhau bằng các miếng da. Ngày nay còn có thêm cây Shinai được làm từ vật liệu carbon được gia cố bằng các thanh nhựa tổng.

    Kendoka (những người tập kendo) cũng thường sử dụng những thanh kiếm gỗ cứng để tập luyện kata

    Bộ giáp bảo vệ được dùng để bảo vệ các bộ phận chính, là mục tiêu trên cơ thể là đầu, cổ tay và thân.

    Đầu được bảo vệ bằng một loại mũ đặc biệt với lưới sắt để bảo vệ mặt, kết cấu bằng da và bìa cứng để bảo vệ đỉnh đầu, cổ và hai bên vai.

    Cẳng tay, cổ tay và bàn tay được bảo vệ bằng loại găng tay dài, dầy và có đệm

    Phần hông được bảo vệ bằng áo giáp

    Võ phục

    Bộ võ phục mặc bên trong bōgu bao gồm một áo khoác (kendogi or keikogi) và hakama, một loại quần có dây buộc ở thắt lưng với 2 ống quần rất. Cái khăn bằng cotton được quấn quanh đầu trước khi đội men dùng để thấm mồ hôi đồng thời làm cho “men” được đội chặt

    Tập luyện

    Tập luyện Kendo khá ồn ào khi so sánh với các môn võ hay các môn thể thao khác. Bởi các kendōka thường sử dụng tiếng thét, để biểu lộ tinh thần thi đấu và đe doạ đối phương. Đồng thời các kendōka cũng sử dụng các bước dậm chân để tăng thêm sức mạnh của đòn đánh.

    Cũng giống như các môn võ thuật khác của Nhật Bản, các kendoka tập luyện và thi đấu với chân không. Vì vậy Kendo được tập luyện lý tưởng nhất là ở trong các võ đường hoặc nhà thi đấu dōjō lớn với sàn gỗ sạch và có độ đàn hồi tốt cho động tác dậm chân fumikomi-ashi.

    Theo như truyền thống của kiếm đạo Nhật Bản là nhất chiêu tất sát (chỉ cần một chiêu là giết được đối thủ), vì vậy các đòn đánh của kiếm đạo thường nhằm vào những chỗ hiểm yếu trên cơ thể. Đó là chém vào đỉnh đầu, chém vào hông nơi giữa xương sườn và xưong chậu, chém vào cổ tay và đâm vào cổ họng. Tập luyện kendo ngày nay các kendoka cũng tập trung vào các điểm đánh này và các điểm này đều có giáp bảo vệ. Những mục tiêu cụ thể là men, sayu-men hoặc yoko-men (bên trái hoặc bên phải phía trên đỉnh đầu), cổ tay kote bên phải vào bất cứ lúc nào hoặc cổ tay bên trái khi tay đang ở trên cao, và phần hông bên trái hoặc bên phải dō. Đòn đâm chỉ được phép đâm vào cổ họng. Tuy nhiên với những cú đâm trượt vào cổ họng rất nguy hiểm, có thể gây chấn thương nghiêm trọng, vì vậy những đòn đâm này được giới hạn chỉ cho những người ở cấp độ 1 dan trở lên.

    Khi một kendoka bắt đầu tập luyện với giáp, các bài tập luyện có thể là một hoặc tất cả các bài tập sau

    Kiri-kaeshi :Chém liên tục bên trái và bên phải của Men bằng 4 bước tiến và 5 bước lùi, mục đích là tập luyện để giữ vững trọng tâm, khoảng cách và các kỹ thuật, đồng thời cũng để nâng cao tinh thần và thể lực.
    Waza-geiko : waza là các kỹ thuật, chiến thuật tập luyện để các kendoka rèn luyện và chuẩn hoá các kỹ thuật trong kendo.
    Kakari-geiko :Đánh nhanh, liên tục và mạnh mẽ trong một khoảng thời gian ngắn, mục đích để rèn luyện sự tỉnh táo và sẵn sàng trong mọi đòn đánh, đồng thời cũng để nâng cao tinh thần và thể lực.
    Ji-geiko : Đánh tự do, sử dụng tất cả những gì mình học được để thi đấu với người cùng tập.
    Gokaku-geiko : Tập luyện giữa 2 kendoka có cùng đẳng cấp.
    Hikitate-geiko : Tập luyện dưới sự hướng dẫn của kendoka cấp cao hơn.
    Shiai-geiko : Thi đấu có trọng tài.

    [sửa] Mục đích tập luyện của Kendo
    Rèn luyện trí óc và thân thể
    Trau dồi tu dưỡng sức mạnh tinh thần
    Thông qua cách tập luyện đúng và nghiêm khắc:
    Để cố gắng phát triển nghệ thuật của Kendo
    Gìn giữ tính nhân bản, sự tôn trọng và lịch sự giữa con người.
    Để kết giao với mọi người trên cơ sở chân thành, ngay thật.
    Và luôn luôn tự trau dồi tu dưỡng bản thân.

    nguồn : http://vi.wikipedia.org/wiki/Kendo
    Trời mùa thu sao nghe u uất quá,
    Gió lạnh về, từng chiếc lá vàng rơi.
    Tôi bên ai những tưởng thu chưa tới,
    Vẫn trời hè, vẫn nồng ấm tình yêu!!!!!!!!
    Gửi tặng em , cô Thỏ của anh ạ

  11. Được thích 2 lần:


  12. #9
    em nghe ở Việt Nam có hội wán mở ra để dạy kiếm thuật thì phải,hok biết học co đắt hok nhi?1 thanh kiếm gỗ giá đã 300USD rùi....

  13. #10
    Quote Nguyên văn bởi blackknight Xem bài viết
    em nghe ở Việt Nam có hội wán mở ra để dạy kiếm thuật thì phải,hok biết học co đắt hok nhi?1 thanh kiếm gỗ giá đã 300USD rùi....
    ở hà nội cũng có khá nhiều nơi dạy kendo đấy. em thử truy cập vào trang web aikibudohanoi.net để tìm kiếm thông tin xem đây là diễn đàn về võ thuật nhật bản hà nội, em thử họi các anh ở đấy xem
    Trời mùa thu sao nghe u uất quá,
    Gió lạnh về, từng chiếc lá vàng rơi.
    Tôi bên ai những tưởng thu chưa tới,
    Vẫn trời hè, vẫn nồng ấm tình yêu!!!!!!!!
    Gửi tặng em , cô Thỏ của anh ạ

  14. #11

    Môn võ đặc dị: Bát Cực quyền

    Nói đến công phu Trung Hoa, ít ai biết đến môn võ nổi tiếng từ hơn 300 năm nay, từng được hoàng đế Khang Hy khen thưởng. Lý do ít người biết vì trước đây Bát Cực quyền truyền thụ theo lối bí truyền trong cộng đồng người Hồi.
    Nơi phát nguyên Bát Cực quyền là Mạnh Thôn, thuộc khu tự trị dân tộc Hồi, cách Thương Châu tỉnh Hồ Bắc 37 km về hướng đông-nam. Dân ở đây vốn thiện chiến, có tinh thần thượng võ. Ngày trước, các tiêu sư bảo tiêu hàng hóa qua Thương Châu là xếp cờ lặng tiếng, không dám “hám tiêu”(hô tên tiêu cục của mình để mọi người tránh đường) vì cao thủ võ lâm ở đây rất nhiều, động vào dễ rách việc, do đó mới có câu “Tiêu bất hám Thương Châu”.
    Mạnh Thôn Bát Cực quyền hình thành và phát triển từ đầu đời Thanh (khoảng năm 1644). “Bát cực” nghĩa là khi ra đòn, kình lực phát ra cả bốn phương, tám hướng. Môn quyền này pha trộn giữa phương pháp tự vệ cổ xưa của người Ả-Rập với các môn võ Trung Hoa như Thiếu Lâm, Võ Đang, Không Động… có đặc tính cương mãnh, chủ về tấn công, thường áp dụng chiêu thức Liên Châu Pháo trong cận chiến, thế mạnh như trương cung, đòn thế phát ra như sấm sét, lâm trận đối địch mạnh bạo, dữ dội, phát huy tối đa lực tấn công ở nắm tay, cùi chỏ, gối, đầu, sức công phá cực mạnh.
    Bát Cực quyền có tính thực dụng cao, trong giới võ lâm từng có lời khen rằng “Văn dụng Thái Cực an thiên hạ, Võ hữu Bát Cực định càn khôn”- tức là Văn dùng Thái cực có thể an thiên hạ, Võ có Bát Cực quyền có thể định trời đất, điều này chứng tỏ Bát Cực quyền có tiếng vang rất lớn trong võ lâm Trung Quốc đương thời.
    Đời vua Khang Hy triều Thanh, có hai đại lực sĩ người Nga sang thách đấu, hạ gục nhiều cao thủ Trung Quốc, hống hách tự xưng là thiên hạ vô địch. Cuối cùng, quyền sư Đinh Phát Tường chuyên luyện Bát Cực quyền ở Mạnh Thôn đã lên kinh thượng đài, sử dụng chiêu thức đặc dị của Bát Cực quyền, lần lượt hạ gục cả hai đại lực sĩ trước sự chứng kiến của hoàng đế Khang Hy và triều thần. Vua Khang Hy rất tán thưởng võ công của Đinh Phát Tường, ban tặng ông danh hiệu “Thiết tráng sĩ võ hiệp”. Bát Cực quyền từ đó lừng danh thiên hạ, nhiều nhân tài võ thuật ra đời từ Mạnh Thôn.
    Hiện nay, người kế thừa và phát dương tinh hoa Bát Cực quyền ở Mạnh Thôn là võ sư Đinh Nhuận Hoa, hậu duệ đời thứ 13 của quyền sư Đinh Phát Tường. Đinh Nhuận Hoa thân hình vạm vỡ, cường tráng, hiện là Chủ tịch Hiệp hội võ thuật khu tự trị dân tộc Hồi tỉnh Hồ Bắc, chủ nhiệm Võ quán Tinh Anh Bát Cực Quyền, trực tiếp huấn luyện hơn 3.000 môn đồ. Năm mười tuổi, Nhuận Hoa bái quyền sư Đinh Ngọc Lâm, là cố vấn tối cao Liên hiệp hội học thuật Bát Cực quyền Thiên Tân làm thầy. Hơn 10 năm khổ luyện, từ năm 1956 Đinh Nhuận Hoa tham gia thi đấu tại các Hội thi võ thuật toàn quốc, tỉnh thành và nhiều lần đoạt giải quán quân.
    Bát Cực quyền hiện lưu truyền rộng rãi ở bắc Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, là môn võ được truyền dạy trong hệ thống quân đội và cảnh sát vì có nhiều đòn hiểm và tính thực chiến cao.
    Trời mùa thu sao nghe u uất quá,
    Gió lạnh về, từng chiếc lá vàng rơi.
    Tôi bên ai những tưởng thu chưa tới,
    Vẫn trời hè, vẫn nồng ấm tình yêu!!!!!!!!
    Gửi tặng em , cô Thỏ của anh ạ

  15. #12
    hình như bát cực quyền hay được luyện kèm với phách quải quyền thì phải

  16. #13
    Có ai biết võ gì hiệu qua trực chiến chứ ko chỉ đẹp để múa ko thì giới thiệu cho tớ với. Xã hội bây giờ đâm thuê chém mướn như cơm bữa
    1 ... 2 ... 3 ... VIỆT NAM !!!

  17. #14
    võ nào cx hiệu qả hết
    còn nếu đánh nhau mà có đồ thỳ đỡ sao nổi, cùng lắm là chỷ có trên film thôi

  18. #15
    thường thì các môn võ nếu như có các đặc trưng gần giống nhau thì có thể luyện cùng với nhau dc. điều này thì chỉ những người am hiểu có thể nói rõ với bạn dc còn nếu như bạn muốn tự tìm hiểu cũng ko khó khăn lắm, mình cũng có hiểu biết chút ít nên có thể nói qua cho bạn . võ công trung quốc chia thành nội gia và ngoại gia, và các môn phái theo cùng dòng thì có thể luyện chung với nhau và khác dòng chỉ có thể luyện chung khi võ công của mình đã đạt đến 1 trình độ nhất định.
    còn về thực chiến thì môn nào cũng đều có khả năng thực chiến hết bởi khi 1 môn phái dc lập ra hay 1 võ đường, câu lạc bộ dc mở đều có người đến thách đấu hết. có người cậy khỏe, có người cậy vũ khí, có người cậy nhanh nhẹn ..... nên nếu như người sáng lập mà võ công kém thì môn phái, clb, võ đường... mà họ sáng lập sẽ khó hoạt động dc suôn sẻ dc và sẽ bị biến mất nhanh chóng. và việc sử dụng võ công cũng tùy từng người, ko phải chỉ có học là có thể đánh nhau mà còn phải biết luận võ, nhìn vào 1 bài quyền biết cách tách chiêu và có thể ứng dụng dc, đây mới là học võ đích thực. còn nếu học chỉ để đánh dc 1 bài quyền mà ko ứng dụng thì sẽ chỉ là học theo phong trào thôi ngoài ra bạn học võ còn phải tùy thuộc vào thể chất của bạn nữa. bạn yếu thì ko thể học môn võ cương quá dc mà bạn quá khỏe thì ko thể luyện 1 môn công phu tuỵêt nhu dc vì như thế sẽ gây sự khó chịu cho bạn trong luyện tập. vì vậy bạn muốn học võ thì nên chọn 1 môn võ phù hợp với bạn hơn la nghe hơi từ người khác như là môn này thế này, thế nọ mà đi học thì chỉ ảnh hưởng đến việc luyện võ của ban thôi,
    Trời mùa thu sao nghe u uất quá,
    Gió lạnh về, từng chiếc lá vàng rơi.
    Tôi bên ai những tưởng thu chưa tới,
    Vẫn trời hè, vẫn nồng ấm tình yêu!!!!!!!!
    Gửi tặng em , cô Thỏ của anh ạ

+ Trả lời chủ đề
Trang 1/4 123 ... CuốiCuối

Quyền viết bài

  • Bạn không thể gửi chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi file đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài viết của mình