PDA

Xem phiên bản đầy đủ : giới thiệu 1 số môn võ của các nước trên thế giới :)



Trang : [1] 2

vovinam_tieutu
22/04/2010, 21:39
nijutsu môn võ bì truyền của nhật bản

Ninja, những sát thủ vô hình vang bóng một thời trong lịch sử Nhật Bản gần như khá quen thuộc đối với những người hâm mộ võ thuật phương Đông. Bởi lẽ họ đã xuất sắc sử dụng môn võ Ninjitsu để hoàn thành sứ mệnh nhiều khó khăn, nguy hiểm. Chúng tôi xin giới thiệu đến bạn đọc vài nét về môn võ bí truyền này.

Nguồn gốc:

Mặc dù đất dụng võ của Ninjutsu là Nhật Bản, nhưng thực ra môn này có nguồn gốc sâu xa từ Trung Quốc. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng Ninjutsu xuất phát từ Tôn Tử hay Tôn Võ Tử, người đời Xuân Thu (722-481 trước Công Nguyên) sanh ở phía Đông núi La Phù, thao lược tinh thông. Ông đã soạn ra một bộ binh pháp gồm 13 thiên: Thủy kế, Tác chiến, Mưu công, Quân hình, Binh thế, Hư thiệt, Quân tranh, Cửu biến, Hành quân, Địa hình, Tựu Địa, Hỏa công, Dụng gián. Bộ sách trình bày những thuật dùng binh, đồng thời cũng là án văn chương bình dị, ý tứ dồi dào, nghĩa lý sâu sắc. Tôn Tử từng làm thượng tướng quân cho Ngô Hạp Lư, giúp Ngô đánh Sở, sau khi yên việc chiến trường, ông đã trở về điền viên lấy chữ thanh nhàn làm thú. Môn Ninjitsu sử dụng hầu hết thuật binh pháp của Tôn Tử, tập trung nhất là thiên “dụng gián” tức thiên bàn về công tác sử dụng gián điệp trong chiến tranh. Những chiến thuật về gián điệp của Tôn Tử đã du nhập vào Nhật Bản dưới thời lãnh chúa Shotoku (593-622) qua việc lãnh chúa này lần đầu tiên sử dụng các thuộc hạ của mình mặc thường phục để dọ thám địch tình phục vụ cho cuộc chiến tranh, từ đó Ninjitsu đã hình thành và phát triển ở Nhật Bản.

Các giai đoạn phát triển:
Tuy nhiên, mãi đến năm 500 năm sau, Ninjutsu mới bắt đầu lớn mạnh. Những nhà sư ở núi Yamaloushi đã làm rạng danh Ninjutsu vào thế kỷ XII qua việc sử dụng những kỹ thuật của môn phái này chống lại sự đàn áp của nhà vua trong những trận chiến đấu cá nhân và đồng đội. Đặc biệt, vào cuối đời vua Heian khoảng năm 1185, kinh đô Kyoto bị rối tung lên do sự xâm nhập của những nhà sư ở núi Yamalousi sử dụng Ninjutsu trừng trị bọn ác ôn, tham quan ô lại. Cũng vào thời điểm này, nhiều võ đường đã được thành lập để truyền dạy Ninjutsu rộng rãi trong nhân dân. Trong đó, nổi bật nhất là võ đường của Yoshitsune một Ninja khét tiếng đương thời. Đến thời Kamakura, vào năm 1192, Ninjutsu bắt đầu phát triển mạnh và bành trướng rộng rãi suốt 400 năm tiếp theo. Vào thời gian này, có đền 25 võ đường được thành lập để truyền dạy Ninjutsu, tập trung nhất là ở hai tỉnh Iga và Koga. Một trong những thủ lĩnh Ninja nổi tiếng của thế kỷ XVI là Sandayu Monochi từng chỉ huy một ngàn Ninja chống lại gần năm vạn quân của tướng Oda Nobunaga.
Một thủ lĩnh Ninja khác là Hanzo Hatori, sống vào thế kỷ XVII, từng đắc lực giúp tướng quân Leyasu Tokugawa chiến thắng vẻ vang bốn vạn quân phiến loạn ở Shimabara Kyushu vào năm 1637. Sau đó, nhờ sự giúp đỡ của các Ninja, dòng họ tướng quân Leyasu Tokugawa đã trị vì đất nước của Thái Dương Thần Nữ đến cuối thế kỷ XIX. Sang thế kỷ XX, trong đệ nhị thế chiến, cơ quan mật vụ Nhật Bản đã phải cần đến sự hoạt động của các cao thủ Ninjutsu để góp phần chấm dứt cuộc phong tỏa của quân đội Mỹ do tướng Douglas chỉ huy đang chiếm đóng ở Nhật lúc bấy giờ. Sau thế chiến thứ hai, chính phủ Nhật đã đặt các Ninja ra ngoài vòng pháp luật. Tuy vậy, Ninjutsu vẫn được ngưỡng mộ, vào tháng 5-1980, để đối phó với bọn khủng bố đánh chiếm sứ quán Iran tại Anh, người ta đã phải nhờ tới một chuyên viên Ninjutsu tổ chức giúp một cuộc tấn công cấp kỳ để giải cứu các con tin. Kết quả là với kỹ thuật đặc thù của Ninjutsu, cuộc tấn công đã hoàn tất chớp nhoáng chỉ mấy phút. Với công trạng diệu kỳ này, môn Ninjutsu đã được chấp nhận phục hồi, hầu truyền dạy cho những người đương đại các kỹ thuật bì truyền của môn võ “thần kỳ” này phục vụ cho những mục đích tốt đẹp của xã hội và nhân loại.
Chương trình huấn luyện môn Ninjutsu hiện đại bao gốm các phần:

Đánh bằng tay không.

Nhào lộn.

Đánh bằng côn gỗ.

Sử dụng vũ khí lạnh và ném liệng đối thủ.

Đánh bằng dây xích và kiếm.

Cách tẩu thoát và đột nhập vào những nơi đã đóng kín.

Nghệ thuật ngụy trang.

Chiến lược tác chiến.

Toàn bộ chương trình huấn luyện của Ninjutsu hiện đại phát triển theo ba cấp độ.

Cấp độ thứ 1: Người tập nắm vững được các phương pháp giao đấu sơ đẳng bằng tay không. Những nhóm cơ bắp và các dây chằng trong cơ thể được phát triển nhằm tạo cho người tập sự mếm dẻo, linh hoạt cao, nhào lộn giỏi. Sự tập luyện trong giai đoạn đầu rất cam go: Người tập phải rơi xuống những sàn cứng, bò trường một khoảng cách khá xa, cũng như phải tập vượt qua 300 km với nhiều chướng ngại vật trong một ngày. Người tập cũng học cách chuyển dịch không gây tiếng động và thoát khỏi cuộc phục kích của địch.

Cấp độ thứ 2: Học tập và phân biệt năm trạng thái tâm lý của đối phương: Thói hám danh, tính nhút nhát, sự nóng nảy, thói lười biếng, nhu nhược, cũng như nắm bắt được năm dục vọng của kẻ thù: Đói, động dục, tự mãn, tham lam, tự kiêu. Với những bản lĩnh tâm lý này, môn đồ Ninjutsu trở thành những Ninja, vừa thành thạo các kỹ thuật song hành với việc hiểu biết tâm lý, đó là yếu tố của sự chiến thắng.

Cấp độ thứ 3: Ninjutsu truyền dạy cho môn đồ tinh thần kiên tâm tối thượng, thông hiểu chín mức độ định thần bí mật của môn phái. Mỗi mức độ tương ứng với sự đan chéo những ngón tay một cách kỳ bí và một âm thanh đặc biệt cho phép họ kết hợp nghị lực tinh thần của con người với trí tuệ vạn năng của thiên nhiên.

THỰC TẾ VÀ HUYỀN THOẠI

Nhiều người nói rằng chương trình huấn luyện của Ninjutsu hiện đại rất sơ lược so với chương trình huấn luyện truyền thống. Họ đã viện dẫn những khả năng gần như huyền thoại của các Ninja để khẳng định thêm phán đoán trên. Chẳng hạn như các Ninja có thể chết vài giờ và sống lại sau đó, có thể đi trên tường, trên mặt nước, có thể tàng hình…!

Tuy nhiên, theo nhiều nhà nghiên cứu võ học thì Ninjutsu truyền thống và Ninjutsu hiện đại không cách xa nhau lắm. Chương trình huấn luyện Ninjutsu truyền thống cũng bao gồm việc rèn luyện cho các Ninja khả năng sử dụng thông thạo các môn võ, các loại vũ khí (bao gồm cả ám khí, hơi độc, hỏa khí…) các phương pháp di chuyển, đột nhập và đào thóat trong mọi điều kiện, cũng như cách ngụy trang, ẩn thân, thậm chí giả chết… nhằm mục đích tối thượng là hoàn thành tốt đẹp sứ mệnh đã nhận lãnh. Tuy nhiên, do quá bất ngờ trong sự chạm trán với các Ninja, người ta không lý giải được các hành tung đặc dị của những sát thủ vô hình này, nên đã gán vào đấy một bức màn sương mù huyền thoại. Thật ra, tất cả đều do quá trình khổ luyện môn Ninjutsu một cách thành thục mà thôi.
Chẳng hạn việc Ninja có thể sống dưới nước như loài cá mà dân gian vẫn thường truyền tụng, thực chất các Ninja đã sử dụng các ống sậy rỗng làm ống thở, và như thế tha hồ ở dưới nước bao lâu cũng được. Thêm nữa, các Ninja có thể mang theo một túi da chứa đầy không khí để thở khi phải ở dưới nước một thời gian. Còn việc đi trên mặt nước chính là các Ninja đã sử dụng được loại giày da bơm đầy khí. Tuy nhiên, để sử dụng được loại giày này, họ đã phải khổ công tập luyện nhiều năm mới đạt được sự thăng bằng và sự kiểm soát thân thể để có thể đứng vững trên mặt nước. Các Ninja cũng thường mang theo bên mình những ống thuốc nổ, khi túng cùng thì quăng ngay vào mặt địch thủ. Ống thuốc nổ tung, khói bay mù mịt, làm lóa mắt địch thủ trong giây lát và như thế Ninja có thể biến mất (hay tàng hình) trong đám khói mù y như các lão phù thủy vậy!

Các Ninja thường rất mạnh khỏe và tập chạy nhảy, leo trèo rất kiên trì. Họ có thể nhảy rất xa và rất cao. Ngoài ra, có lúc Ninja đã dùng một đồ vật tượng trưng chiếc dù để nhảy từ nơi cao xuống một cách an toàn. Điều này giải thích các huyền thoại về khả năng bay của họ. Ninja cũng sử dụng một số dụng cụ giúp họ vào nhà, vào thành một cách dễ dàng. Họ mang những đôi giày xốp nên có thể bám vào tường hay vách đá mà leo lên. Một dụng cụ khác nổi tiếng của Ninjutsu là một miếng da cuốn chung quanh bàn tay và vòng qua cổ tay, có gắn sẵn bốn mũi nhọn lồi ra phía lòng bàn tay. Những mũi nhọn này có thể dùng để bám vào tường, vào xà nhà trên trần và chuyền tay đi qua một căn phòng mà chân không hề chạm đất. Miếng da này còn là một khí giới lợi hại khi đối mặt với kẻ thù. Một cú đâm thẳng bằng dao hay bằng gươm có thể dùng một tay để đỡ, tay kia đánh cả bốn mũi nhọn vào mặt địch thủ.

Còn khả năng của các Ninja có thể chết đi rồi vài giờ sau sống lại chính là nhờ ở những kỹ thuật hạn chế hơi thở giống như môn Yoga của Ấn Độ. Thật vậy, một Ninja có thể ở dưới nước trong một thời gian mà không cần ống sậy hay túi khí trời, cũng như có thể giả chết để lừa đối phương chính là nhờ khả năng hạn chế hơi thở đặc thù của Ninjutsu. Khả năng hạn chế hơi thở của môn Ninjutsu còn cho phép họ đứng yên trong một lúc khá lâu, nhờ vậy mà có thể lẫn lộn vào các bụi cây hay các tảng đá và không động đậy để không bị kẻ địch khám phá. Do tính đặc thù của môn phái là gắn bó chặt chẽ với sứ mệnh đặc biệt quan trọng cho nên Ninjutsu đòi hỏi những môn đồ khi nhập môn phải hội đủ ba điều kiện: Ý thức trách nhiệm cao, trí phán đoán nhanh nhạy và một thân thể khỏe mạnh để có thể chịu đựng được quá trình tập luyện cũng như quá trình hành hiệp đầy gian lao nguy hiểm. Ngoài ra, Ninjutsu còn đòi hỏi các Ninja phải biết chết ngay tức khắc hay biết giết một đồng môn của mình, khi sa vào lưới của địch thủ và không có con đường đào thoát.

Có thể xem những yêu cầu vừa nêu trên đã tạo cho Ninjutsu sắc thái trong giới võ lâm, tạo ấn tượng sâu sắc cho mọi người khi nghiên cứu về môn phái này. Nhưng cũng phải chăng chính yếu tố bảo mật này đã làm cho Ninjutsu hiện đại đã mất đi tính hấp dẫn như Ninjutsu truyền thống đã từng có?

vovinam_tieutu
22/04/2010, 21:54
Lịch sử Cái Bang có thể nói là từ rất lâu đời, danh xưng “Thiên Hạ Đệ Nhất Bang” không phải tự nhiên mà có. Nhờ tinh thần quất cường và nhân số đông đảo, phái này luôn chiếm một vị trí đáng kể trong võ lâm Trung Nguyên. Danh tiếng trên Giang hồ của Cái Bang lừng lẫy hàng trăm năm, nhân tài Ngọa hổ tàng long, thời nào cũng có. Trong bốn bể Đông Tây Nam Bắc, nơi nào có ăn xin, nơi đó có Cái Bang. Những đệ tử trong bang thương yêu giúp đỡ nhau, chia sẻ mọi thứ, tạo nên một khối thống nhất luôn theo phò Chính nghĩa.

Cái Bang là bang hội tập trung những tên ăn mày hành khất có rất đông hội viên, thường khoảng trên dưới vài chục vạn người thanh thế cực kì to lớn. Các đệ tử Cái Bang thường được chia theo đẳng cấp, mới gia nhập là cấp 1, đệ tử 1 túi rồi từ từ theo công lao và thời gian mà thăng cấp từ từ lên 2 , 3 , 4 ... Cao nhất là các trưởng lão 8, 9 túi rồi trên nữa là Phó Bang Chủ và Bang Chủ. Bang Chủ Cái Bang rất được quần hào trọng vọng vì là người nắm trong tay sinh mệnh của hàng vạn đệ tử. Người có thể chi phối hầu hết các lực lượng võ lâm chính phái cùng với phái Thiếu Lâm là lãnh tụ võ lâm Trung Nguyên. Một bên được ví với Thái Sơn, còn 1 bên là Bắc Đẩu của võ lâm.

Trong lịch sử Cái Bang đã chịu nhiều khó khăn nhưng không quên mục tiêu của mình là tôn vinh chữ "nghĩa" và giúp người khó khăn. Vì vậy, Cái Bang trở thành môn phái gần gũi với dân nghèo và trở thành trung tâm của Bách Đạo dựa trên nền tảng sức mạnh của dân chúng.Tất cả mười ba thành đều là lãnh địa của Cái Bang. Dù cho đi đến đâu thì cũng có thể thấy ăn mày và trong số những ăn mày đó thì phần lớn là người của Cái Bang. Phần lớn đệ tử của Cái Bang đã làm cho Cái Bang trở thành môn phái mạnh nhất và Cái Bang được coi là "tai mắt của thiên hạ". Trong vô số những môn phái của giang hồ thì Cái Bang là môn phái có thế mạnh về tin tức nhất.Tất cả thu nhập của Cái Bang đều dựa vào việc xin ăn. Nhưng việc xin ăn này không phải là do bất hạnh hay vì miếng ăn đơn thuần. Mục đích xin ăn của Cái Bang là kết bạn và cuối cùng là ra tay nghĩa hiệp.

Các đệ tử của Cái Bang có quyền học võ của bất kì môn phái nào, hay có thể được Bang Chủ truyền dạy võ công. Nhưng Cái Bang cũng có 2 môn Thần Công trấn phái là Hàng Long Thập Bát Chưởng cùng Đả Cẩu Bổng Pháp. Hai môn võ này được truyền tụng đời đời, các Bang Chủ chấp chưởng đại quyền đều phải biết 2 môn công phu này. Hàng Long chưởng có thể không biết nhưng nhất định phải thông thạo 36 chiêu Đả Cẩu Bổng. Suốt các đời Bang chủ luôn phải lãnh đạo Bang chúng hành hiệp trượng nghĩa, cứu khổ phò nguy đối phó ngoại xâm nội phản chống lại các thế lực ác độc của võ lâm. Vì vậy Cái Bang luôn có thanh thế rất lớn trên giang hồ và luôn nhận được sự kính trọng mến phục của đồng đạo võ lâm. Trong đó nổi tiếng nhất là Hồng Thất Công, bang chủ đời 18 của Cái Bang, người đã đạt đến cảnh giới 2 loại võ công trên.

Lịch sử Cái bang:

Theo lời kể của Hồng Thất Công, thì Cái Bang có lịch sử cũng khá lâu đời. Khoảng vào thời Đường sau khi Thiếu Lâm khai môn lập phái, vị Tổ Sư mở bang sáng lập bang phái cùng với 18 chiêu Hàng Long chưởng. Còn Đả cẩu Bổng pháp thì chưa được hoàn thiệ , truyền qua từng đời thì tới đời thứ 3 vị Bang chủ này thêm vào thành 36 chiêu Đả Cẩu Bổng hoàn chỉnh ...Truyền qua nhiều đời, thời cực thịnh của Cái Bang có thể là từ lúc Tiêu Phong tiếp nhiệm Cái Bang. Ông là vị Bang Chủ được đánh giá là tài ba nhất của Cái Bang với bao nhiêu công trạng to lớn lập được cho võ lâm Trung Nguyên và triều đình Đại Tống.

Lực lượng Cái Bang lúc đó khoảng hơn 60 vạn người, tiếc thay anh hùng thường bị trời ghen ghét. Nên Tiêu Phong đoản mạng, lập tức Cái Bang như rắn mất đầu chẳng còn oai phong như khi xưa. Mãi tới khi Hồng Thất Công nắm quyền mới có thể khôi phục phần nào uy danh lừng lẫy của Bang phái năm xưa. Sau Hồng Thất Công là Hoàng Dung, vị Bang chủ nữ đầu tiên của Cái Bang từ khi mở bang (người thứ hai là Sử Hồng Thạch), cũng đã lập nhiều đại công tạo dựng lại thanh thế cho Cái Bang trên giang hồ. Rồi Lỗ Hữu Cước , Gia Luật Tề thay nhau tiếp nhiệm ... Qua nhiều năm , Cái Bang càng lúc càng suy vi, cho đến thời của Sử Hoả Long thì Hàng Long Thập Bát Chưởng thất truyền còn Cái Bang chỉ là 1 bang hội hạng 2 trên giang hồ ...

Qua nhiều năm, cơ chế của Cái Bang có đôi chút thay đổi. Thời Bắc Tống , ngoài Tứ Đại Trưởng Lão Cái Bang còn có 2 vị trưởng lão là Truyền Công , Chấp Pháp , qua thời Nam Tống , các vị trưởng lão lại chia ra 2 phe : Áo Dơ , Áo Sạch và cũng chỉ còn 4 vị, đến thời Nguyên Minh chỉ còn 2 vị lãnh đạo cao nhất là Trưởng Bát Long Đầu và Trưởng Bảng Long Đầu cùng tên Chấp Pháp ...
Các Bang Chủ Cái Bang qua các thời kì :

- Uông Kiếm Thông : Bang chủ đời thứ 16
- Tiêu Phong : Bang chủ đời thứ 17
- Hồng Thất Công : Bang chủ đời thứ 18
- Hoàng Dung : Bang chủ nữ duy nhất , đời thứ 19
- Lỗ Hữu Cước : Bang chủ đời thứ 20
- Gia Luật Tề : Bang chủ đời thứ 21

Sau đó còn 2 vị là Sử Hoả Long , Giải Phong ( trong Tiếu Ngạo Giang Hồ ) : không rõ đời thứ bao nhiêu ...

Hệ thống võ công:

Ưu điểm của võ công Cái Bang là có tính thực dụng và thực tiễn cao. Không duy trì, giữ gìn lễ nghi và lề thói như những môn phái khác của Bách Đạo. Võ công của Cái Bang chuyên đánh lạc hướng đối phương, nên thoạt nhìn nó có vẻ lén lút hèn hạ. Thế nhưng, ẩn bên trong nó là triết lý của những bậc thầy không màng tới thế sự. Võ công Cái Bang không ảo diệu thâm thúy. Trong các loại võ công, võ công Cái Bang chỉ có mấy ưu điểm được bổ sung là mang tính lịch sử và truyền thống (Đả Cẩu Bổng Pháp hay Giáng Long Thập Bát Chưởng...). Do đó, hầu hết những đệ tử đều bị nguy hiểm vì chạy theo lợi ích lớn mà từ bỏ thân thể mình.

1.Cái Bang Chưởng Pháp :

Cao thủ Cái bang càng đánh càng dồi dào sức lực, khi sinh mạnh lâm nguy võ công được phát huy tới mức tột đỉnh.Đệ tử Cái bang thiện chiến giáp lá cà, đồng thời né tránh đòn đánh gần rất lanh lẹ. Những kẻ ra đòn nặng với đệ tử Cái bang đều phải chuốc lấy phần thiệt. Họ càng ra nhiều đòn liên hoàn, công lực càng tăng lên gấp bội và có thể kết liễu kẻ địch từ xa. Đến khi nhận ra ý đồ của họ, kẻ địch tiến thoái lưỡng nan, chạy trốn không được mà chống cự cũng không nổi.

Võ công tuyệt học của Cái Bang Chưởng pháp là Hàng Long Thập Bát Chưởng, còn gọi là Giáng Long Thập Bát Chưởng, môn võ công trấn phái của Cái Bang. Giáng Long Thập Bát Chưởng được xem là 1 trong 3 chiêu thức lợi hại nhất võ lâm, cùng sánh ngang với tuyệt kỹ võ học của Thiếu Lâm và Võ Đang. Sau đây là tên 15 chiêu của Giáng Long Thập Bát Chưởng, 3 chiêu cuối của Giáng Long Thập Bát Chưởng tương truyền đã không còn hiện hữu giang hồ sau khi Hồng Thất Công rời Cái Bang mai danh ẩn tích, các bang chủ về sau của Cái Bang không ai có thể luyện được 3 chiêu này :

1 . Kháng Long Hữu Hối
2 . Phi Long Tại Thiên
3 . Quần Long Vô Thủ
4 . Tiềm Long Hốt Dụng
5 . Bàn Long Thực Nhật
6 . Song Long Xuất Hải
7 . Đột Như Kì Lai
8 . Lợi Thiệp Đại Xuyên
9 . Kiến Long Tại Điền
10. Hoặc Dược Tại Uyên
11. Lý Sương Băng Chí
12 . Hồng Tàm Ư Lục
13 . Chấn Kinh Bách Lý
14 . Thần Long Bãi Vĩ
15 . Long Chiến Vũ Dã

Bộ chưởng pháp này là võ công chí cương của thiên hạ, bao đời Bang Chủ Cái Bang nhờ nó mà thành danh giang hồ uy lực tuỳ theo người sử dụng.

Trích dẫn từ lời tác giả Kim Dung:

Những cao thủ về môn chưởng pháp này có thể kể là Tiêu Phong, Hồng Thất Công, Quách Tĩnh. Tiếc thay, từ sau thời Anh Hùng Xạ Điêu, vật đổi sao dời Hàng Long Chưởng cũng theo đó mà thất truyền cùng với sự suy vi của Cái Bang. Đến thời Gia Luật Tề thì chắc không học nổi toàn bộ, Quách đại hiệp đành phải gửi gắm hi vọng vào hậu thế trong thanh Ỷ Thiên kiếm... Nhớ lại sau này bang chủ Cái Bang Sử Hoả Long chỉ tập thành có 12 chiêu mà tiếc cho Tiêu Phong 1 thân anh hùng lại vùi thây nơi hiểm địa ...

2.Cái Bang Bổng Pháp

Đả Cẩu Bổng Pháp: Công nhận là tổ sư khai môn lập phái của Cái Bang thật lạ, một mặt sử dụng tên 1 con linh vật, Rồng để đặt tên cho chưởng pháp (Hàng Long thập bát chưởng) mặt khác sử dụng tên một con vật tầm thường, Cẩu để gọi môn Bổng Pháp chí bảo trấn bang...

Như ta đã biết, Đả Cẩu Bổng Pháp gắn liền với cây Đả Cẩu Bổng danh lừng thiên hạ. Tương truyền tất cả các Bang Chủ Cái Bang khi tiếp nhiệm trọng trách đều được Bang Chủ tiền nhiệm dạy cho môn võ công thần diệu này. Nhưng có lẽ ít ai biết được hình dáng thực sự của cây Đả cẩu Bổng. Bởi nó dài 3 thước lẻ 7 phân, hình thẳng và làm bằng trúc xanh. Còn Đả Cẩu Bổng của Bang Chủ thì làm bằng Lục ngọ , có màu xanh như trúc vậy. Một cây gậy tầm thường như vậy nhưng lại có quyền lực tối cao, có thể sai khiến hàng vạn vạn Bang Chúng dưới quyền.

Tiếp theo là bàn về Đả Cẩu Bổng Pháp, lộ Bổng Pháp này gồm 36 chiêu chia theo 8 chữ khẩu quyết : buộc, đập, trói đâm, khều, dẫn, khoá, xoay. Tuỳ tình hình địch thủ và gia số võ công mà sử dụng 1 trong 8 chữ khẩu quyết này là có thể khắc địch chế thắng. Điểm lợi hại của Bổng Pháp này là người võ công kém hơn khi đụng đối thủ mạnh cũng có thể chiến thắng nổi, chiêu thức Bổng Pháp biến ảo tinh diệu tuyệt kì. Có thể điểm sơ sơ qua vài chiêu:

1. Ngao Khẩu Đoạt Trượng (dùng cướp gậy)
2. Áp Thiên Cẩu Bối (khẩu quyết chữ Khoá)
3. Bổng Đả Song Khuyển (chữ Đập)
4. Bát Thảo Tầm Xà (chữ Đâm)
5. Lục Phản Cẩu Điện (chữ Đâm )
6. Bát Cẩu Triều Thiên ( chữ Khoá )

Người có thể sử dụng thuần thục Đã Cẩu Bổng Pháp lại là nữ bang chủ duy nhất của Cái Bang, đồng thời cũng là bang chủ đời 19 của Cái Bang : Hoàng Dung.

Nói đến Cái Bang là ta nói nghĩ ngay đến "Thiên Hạ Đệ Nhất Bang", nghĩ đến các nhân vật Hồng Thất Công, Kiều Phong (Tiêu Phong), Quách Tĩnh v.v.... Ngoài danh hiệu "Thiên Hạ Đệ Nhất Bang" ra, ta còn dễ dàng liên tưởng đến Giáng Long Thật Bát Chưởng, Đã cẩu bổng pháp. Đệ tử Cái Bang phân bố khắp nơi, đông tay nam bắc đâu có ăn xin, là nơi đó có phân đà của Cái Bang.

Kết cấu bang phái:

Cấp cao nhất, thống lĩnh bang phái: Bang chủ.

Bang chủ lấy bốn biển làm nhà, ngao du đây đó, không cố định một nơi. Nguyên nhân 1 phần là do bang phái trải rộng khắp thiên hạ, nên bang chủ không thể ngồi một nơi mà quản lý bang hội, nên phải nay nơi này, mai nơi khác giám sát bang chúng. Tuy nhiên, vào mỗi đầu tháng phải đến Hồ Động Đình để họp cùng gặp các trưởng lão trong bang, xử lý những công việc quan trọng. Bang chủ Cái Bang võ công xuất chúng, lại ngày đây mai đó, nên hành hiệp trượng nghĩa khắp nơi. Rất nhiều người trong chốn giang hồ mang ơn bang chủ Cái Bang, vì thế rất được đồng đạo chốn giang hồ kính trọng.

Dưới bang chủ là trưởng Lão. Ví dụ như truyền công trưởng lão (dạy võ công), chấp pháp trưởng lão, chưởng côn trưởng lão v.v.... Nhiệm vụ là giúp đỡ bang chủ xử lý công việc trong bang. Đảm đương chức vụ trưởng lão, phải là đệ tử 9 túi.

Kế đến, đó là đệ tử 8 túi. Giữ cương vị hộ pháp trong bang. Thường gồm có 5 người, xưng là Ngũ Đại Hộ Pháp, gồm : Đông Đàng Hộ Pháp, Tây Đàng Hộ Pháp, Nam Đàng Hộ Pháp, Bắc Đàng Hộ Pháp, Trung Đàng Hộ Pháp. Nhiệm vụ của họ là phân công quản lý các phân đà ở 5 khu vực khác nhau của Trung Nguyên.

Tiếp theo đó là đệ tử 7 túi, thường giữ chức vụ trưởng phân đà ở 1 thành thị nào đó, kế đến là dệ tự sáu túi, năm túi, bốn túi, ba túi, hai túi, một túi, và không có túi nào.

vovinam_tieutu
23/04/2010, 22:39
Lịch sử hình thành

Trương Tam Phong, hay còn gọi là Trương Chân Nhân, tên lúc nhỏ là Trương Quân Bảo, tổ tiên gốc ở Long Hổ Sơn, tỉnh Giang Tây. Thuở nhỏ, ông theo học đạo Nho và đạo Lão. Từ nhỏ ông đã được mẹ gửi đi học võ tại chùa Thiếu Lâm. Nhưng trong thời gian học võ Trương Tam Phong đã có một số bất đồng với đồng môn nên đã bị đuổi khỏi Thiếu Lâm. Nhờ bản tính thông minh hơn người, nên Trương Tam Phong đã sử dụng võ công của Thiếu Lâm để tạo nên 1 loại võ công mới đó là Thái Cực Thần Công danh tiếng và xây dựng nên Võ Đang.

Thái Cực Thần Công là loại võ công lấy nhu chế cương, lấy tĩnh chế động, lấy yếu thắng mạnh. Đây là loại võ công sử dụng lực đánh của đối phương vào mình để đánh trả lại. Thái Cực Thần Công được chia làm 2 loại là Thái cực kiếm và Thái cực quyền.

Về người đã sáng lập ra nội gia quyền Võ Đang là Trương Tam Phong thì có hai thuyết do người thời Bắc Tống (960-1127) và người đầu thời Minh (1368-1644) đặt ra. Về lai lịch Trương Tam Phong sáng tạo ra nội gia quyền cũng có hai thuyết.

Một thuyết bảo đêm ông nằm mộng thấy thần Chân Võ truyền dạy quyền pháp, sau khi trời sáng một người giết cả trăm giác vì thế mà kỹ thuật giao đấu võ thuật nổi tiếng ở đời.

Một thuyết bảo Trương Tam Phong quan sát hạc và rắn đánh nhau, hạc từ trên cây xà xuống đánh con rắn dài nằm khoanh tròn. Rắn dài đang tĩnh chợt động, tránh né có hướng do đó Trương hiểu rõ tính "lấy tĩnh chế động, lấy nhu khắc cương" là một đạo lý.

Vào Triều Nguyên, vua Huệ Tôn (Thuận Đế), niên hiệu Nguyên Thống (năm 1333) ông thi đỗ Mậu Tài (Tú Tài ngày nay) và làm quan Linh ở Trung Sơn và Bắc Lăng. Về sau ông bỏ DUT đường công danh để chu du thiên hạ.

Ông đã từng theo học võ và Phật giáo tại Tung Sơn Thiếu Lâm Tự khoảng 10 năm.

Vì nhận thấy võ thuật Thiếu Lâm Tự thuộc về cương quyền ngoại tráng, cho nên khi thành đạo sĩ tu luyện tại núi Võ Đang, ông đã khai sáng Võ Đang quyền pháp, với đặc tính nhu nhuyễn trong kỹ thuật, phối hợp với nội lực tĩnh luyện.

Theo mục "Phương Kỷ Truyện" trong Minh sử có chép "" Trương Toàn Nhất có tên thật là Trương Quân Bảo, đạo hiệu là Trương Tam Phong dung mạo khôi ngô, thân giống rùa, lưng giống hạc, tai to, tròn mắt, râu cứng như kích. Dù trời nóng hay lạnh, Trương Tam Phong thường mặc một bộ áo quần, đầu đội nón, mỗi ngày ăn hơn một đấu gạo, và đi hơn trăm dặm đường.

Ông cùng học trò đi chơi núi Võ Đang, vì thích phong cảnh nơi đây, ông đã lập ra Lều cỏ trên núi Võ Đang để tu luyện. Vua Minh Thái Tổ nghe tiếng vào năm Hồng Vũ thứ 14 tức năm 1382, có sai sứ đến tìm ông nhưng không gặp ".

Theo Hoàng Tông Hy, một học giả đời Thanh cho rằng Trương Tam Phong sống vào đời Bắc Tống (950-1.275). Còn có thuyết cho rằng Trương Tam Phong sinh ngày 9 tháng 4 năm 1247, Triệu Nguyên, sống đến Triều Minh, thọ trên 200 tuổi. Theo Quốc Kỷ Luận Lược của Từ Triết Đông, những thuyết này không đáng tin cậy.

Quá trình phát triển

Cũng như triết lý Lão Trang và Kinh Dịch được áp dụng dẫn đạo thực hành. Môn quyền nổi danh nhất của Võ Đang phái là "Thái Cực Quyền" được Trương Tam Phong sáng chế vào thế kỷ 14.

Theo sách "Thái Cực Quyền Luận" của Vương Tông Nhạc có ghi: "Những điều bàn luận trong sách này đều căn cứ vào tài liệu truyền dạy của Trương Tam Phong tiên sinh, để giúp hào kiệt trong thiên hạ, tăng thêm tuổi thọ, sống lâu, chớ không nghĩ đến chuyện dùng Thái Cực Quyền để làm phương tiện chiến đấu với kẻ địch".

Trên dòng sông lịch sử dài dặc và chầm chậm chảy, đưa núi Võ Đang làm nơi bắt nguồn cho phái Võ Đang, đời đời mật truyền công phu nội gia Võ Đang trong Đạo giáo, đồng thời tiến thêm một bước càng thêm phong phú và phát triển mạnh. Cuối đời Thanh, đầu thời Dân quốc, khi lão đạo sĩ Từ Bản Thiện nhận làm Tổng đạo Kim Sơn cuối cùng của núi Võ Đang thì công phu nội gia quyền đạt tới cực kỳ cao trào. Từ đạo tổng vốn giỏi “Cửu cung Bát quái chưởng”, chuyên có “Thái cực kiếm”, “Võ Đang quyền”, “Huyền vũ côn” v.v...

Trải qua diễn biến mấy trăm năm, công phu nội gia của Võ Đang từ bài nhập môn sơ đẳng nhất, năm bài mười ba thế quyền dần dần phong phú lên như: Võ Đang đồng tử công, Huyền Võ côn, Tam hợp đao, Long môn thập tam thương v.v...Kungfu Võ Đang được coi là một trong những đại môn phái của võ thuật truyền thống Trung Hoa, nếu xét về bề dày lịch sử cũng như kho tàng võ học thì chỉ sau võ thuật Thiếu Lâm mà thôi.

Đặc trưng

Quyền Võ Đang là võ thuật giao đấu, lại dung hợp các giáo nghĩa của Đạo giáo như “lấy mềm yếu thắng cứng mạnh”, “xử hiền giữ mềm mỏng” ...

Xét từ công phu tập luyện đã quán thông các phương pháp tu luyện của Đạo giáo như ngưng thần chuyên ý, ý khí cung dụng v.v.. Quyền pháp, kiếm thuật Võ Đang về sau trở thành nội dung trọng yếu của giáo đồ đạo giáo tu hành theo tôn giáo, thể ngộ ý nghĩa của tôn giáo, đồng thời còn dùng để làm khỏe mạnh thân thể.

Đệ tử Võ Đang không bắt buộc phải ăn chay nhưng nếu không ăn chay thì sẽ không được tiếp nhận chức chưởng môn. Đệ tử Võ Đang đa số là nam giới.

Võ Đang còn có một môn quyền pháp rất nổi tiếng trong giới võ lâm Trung Hoa là Bát Quái chưởng, có người gọi nó là Bát Quái quyền, nhưng không nên lẫn lộn nó với Bát cực quyền của Bắc Thiếu Lâm.

Võ Đang phái, còn gọi là Võ Đang quyền sau này trong dân gian gọi là Nội gia quyền được mở rộng nội dung bao gồm các loại quyền thuật sau:

Võ Đang quyền nguyên thủy của Võ Đang, sau này tục gọi là Nội gia quyền ám chỉ tất cả các loại quyền pháp của Võ Đang sau luôn cả thời Trương Tam Phong chế tác - như được liệt kê trong phần dưới đây.

Võ Đang Hình Ý quyền không nên lẫn lộn với Hình Ý quyền hay Lục Hợp Quyền (còn gọi là Tâm ý bả) của Thiếu Lâm.

Tượng Hình Quyền, còn được gọi là Hình Ý Linh Thú quyền còn bị diễn dịch là Hình Ý quyền gây nhầm lẫn sau này.

Võ Đang Bát Quái chưởng

Thái Cực quyền Trần gia của làng Trần gia câu sau này được tích hợp lại và cải biến đi, không phải do Trương Tam Phong sáng tác ra.

Thái Cực Khí công tục gọi là Thái Cực Thần công do Trương Tam Phong chế tác.

duongnguyen_94
26/04/2010, 22:23
em thấy môn vovinam có vẻ rất hay phải không ạ ?

vovinam_tieutu
29/04/2010, 12:58
em thấy môn vovinam có vẻ rất hay phải không ạ ?

mỗi môn đều có 1 cái hay riêng của nó chứ ko phải riêng vovinam đâu em và cái hay đó còn tùy thuộc vào việc em thích võ ở diểm nào nhất. nếu như em thích các đòn bay người tấn công thì chắc chắn vovinam và taekwônd là lựa chọn tuyệt vời. nếu như em muốn 1 môn võ tạo sự cương mãnh trong từng đòn thế thì thiếu lâm, karate, tán thủ, muay là phù hợp nhất. còn nếu em muốn 1 môn võ nhẹ nhàng, uyển chuyển thì tập wushu, hồ việt quyền, thu vân võ đạo, là tốt nhất rồi. còn nếu như thích ứng dụng thực tế thì có lẽ môn nào cũng có thể ứng dụng dc tất em ạ :):):):):):)

vovinam_tieutu
29/04/2010, 14:47
Hapkido là môn võ nổi tiếng của Triều Tiên sau Taekwondo và còn được coi là môn võ khắc chế môn Taekwondo.

Xuất xứ:

Khi Triều Tiên còn là nước Silla nhỏ bé dưới sự đô hộ của nhà Đường (Trung Quốc), người dân Triều Tiên đã cải biên môn Tang Su (Đường Thủ) thành môn võ của Triều Tiên là Tae Kyon (tiền thân của môn Taekwondo hiện nay).

Đạo quân Hwa Rang anh dũng với môn Tae Kyon đã giải phóng và thống nhất Triều Tiên năm 668. Từ ý đồ quân sự hóa toàn dân để Silla trở thành một lãnh thổ bất khả xâm phạm, môn Tae Kyon đã được truyền bá và tự do phát triển một cách mạnh mẽ. Mỗi người dân bình thường đều có thể tập luyện và trở thành một cao thủ Tae Kyon. Thế rồi, nhiều cuộc xô xát đã xảy ra giữa ngự lâm quân và các cao thủ bên ngoài mà phần thua thường thuộc về quân triều đình. Nhận ra đây là mối hiểm nguy đối với hoàng gia, nhà vua hạ chiếu chỉ tập trung hết các võ sư trong nước về giam lỏng và buộc phải nghiên cứu sáng tạo ra một loại võ công mới, có tác dụng khắc chế được các đòn thế của môn Tae Kyon.

Hơn 3 năm ròng rã, các võ sư vừa sung sướng vừa khổ tâm khai sinh một đứa con tinh thần nữa: Hapkido ra đời để khắc chế người "anh cả" Tae Kyon.

Những Nét Đặc Thù:

Ngoài các đòn triệt, phá, niêm nhằm chế ngự các đòn đá của Tae Kyon, đòn thế của Hapkido vẫn mang nhiều nét đồng dạng với Tae Kyon và có khuynh hướng trở về với bản gốc Tang Su (Đường Thủ). Nhưng kỹ thuật triệt, phá, niêm đòn của Hapkido vô cùng lợi hại, dứt khoát (đánh gãy tay, xỉa thủng mắt, đạp gãy chân trụ địch thủ một cách không thương tiếc"). Thủ pháp gần giống Thiếu Lâm Bắc phái nhưng đơn giản hơn. Nắm đấm ít được dùng mà được thay thế bằng lòng bàn tay (chang, chưởng) gốc lòng bàn tay, nắm tay quỷ, ngón tay"

Các mục tiêu nằm trên người đối phương gồm 3 điểm chính: mắt, cổ, hạ bộ. Hapkido rất đa dạng với nhiều tính năng tương tự: Thiếu Lâm, Taekwondo, Karate, Judo, Aikido. Ngoài ra Hapkido còn dùng binh khí như côn, gậy, dù

Hapkido, môn võ được coi là gần gủi nhất với Aikido qua những đòn thế quật, bẻ khớp, quăng, cuốn, té v.v rất ấn tượng đặc thù của “môn võ tình thương” Nhật Bản. Người Việt nam chúng ta ít nghe đến môn Hapkido vì sự lớn mạnh quá nhanh của Taekwondo (Thái Cực Đạo) trên đất Việt Nam, nhiều người vẫn lầm tưởng Hapkido là 1 chi phái của Taekwondo. Cho đến đầu năm 1989 một phái đoàn chính thức của Hapkido Đại Hàn được sang biểu diễn lần đầu tiên tại sân Phan Đình Phùng (Sài gòn), những người yêu thích võ thuật tại Việt Nam bắt đầu gọi môn Hapkido là ‘HIỆP KHÍ ĐẠO ĐẠI HÀN’ để phân biệt với Hiệp Khí Đạo Nhật Bản với tên gọi chính thức là Aikido.

Lược sử nguyên thủy của môn võ Hapkido đến nay vẫn có đôi phần còn bí ẩn:

Một truyền thuyết cho rằng Hapkido có nguồn gốc từ thế kỷ thứ 7 tại vương triều nước Triều Tiên (Hiện nay có tên là Đại Hàn, Korea), giới Hiệp Sĩ quý tộc Hwa-Rang xuất hiện như một tầng lớp đầu tiên chính thức nghiên cứu và tập luyện các đòn thế Hapkido ở xứ này dưới tên như ‘Yu Kwon Sul’ , ‘Yu Sool’, ‘Ho Shin Mu Do’, và ‘Bi Sool’. Đến lúc này thì Hapkido hoàn toàn là những đòn cương mãnh rất quen thuộc trong dòng võ thuật Triều tiên. Nhưng sau đó chính các tầng lớp các vị sư Phật giáo đã pha với những tinh túy võ thuật từ dòng Phật giáo Trung Hoa tràn sang, bằng cách pha chế các đòn ‘cầm nã thủ’ đặc thù của các Bắc phái Thiếu Lâm. Nhiều nhà võ sử Hàn Quốc vẫn coi tổ sư của Hapkido là võ sư Tae-Kyun, vị khai sáng ra ngành Hapkido nguyên thủy phối hợp giữa cương và nhu đầu tiên của Đại Hàn, đất nước thuần chuộng các môn võ có tính cách mạnh bạo, và chuộng cước hơn quyền.

Lịch sử cận đại của Hapkido cho thấy có 2 trường phái chính, đó là Võ Sư Choi Yong Sul và Võ Sư Ji Han Jae, vì sự phân chia quá sâu rộng trong nền lịch sử võ thuật của Đại Hàn nên khó phân biệt trường phái nào hoặc người nào chính thức là người đã đầu tiên khai triển môn Hapkido hiện đại, mặc dù không ai dám phủ nhận sự đóng góp của cả 2 vị võ sư trên cho sự lớn mạnh của Hapkido khắp thế giới hiện nay, nên mọi tài liệu chính thức của Hapkido ghi nhận 2 vị Võ Sư Choi Yong Sul và Võ Sư Ji Han Jae là đồng chưởng môn Hapkido hiện đại.

Võ Sư CHOI, YONG SUL:

Võ sư Choi Yong Sul có công trong việc thu nhập, phục hồi những thế nguyên thủy của Hapkido chính gốc. Sinh năm 1904 ở thị trấn Yong Dong , tỉnh Choong Chung , gần Taegue , Hàn Quốc . Năm 1909 , Hàn Quốc bắt đầu chịu sự chiếm đóng của người Nhật . Năm 7 tuổi , Choi đã bị quân đội Nhật bắt sang Nhật phục dịch. Đây là thông lệ rất phổ biến vào thời điểm đó , lực lượng chiếm đóng Nhật Bản đã bắt những đứa trẻ Hàn Quốc sang Nhật để lao động các công việc khác nhau. Sang Nhật Bản, trốn và sống lang thang ngoài đường phố bằng đủ thứ nghề từ ăn sinh, phụ bàn, đánh giày. Như một định mệnh , Choi được gán làm việc cho Sokaku Takeda (1860-1943) , chưởng môn đời thứ 32 của Daito Ryu Aikijitsu , lúc đó Takeda đã 44 tuổi . Choi được đặt cho một cái tên Nhật , Yoshida Asao, được xem như là tên mà Choi sử dụng trong suốt thời gian sống ở Nhật , tuy nhiên nó không phải hoàn toàn là 1 cái tên Nhật . Vì vậy , cái tên này chỉ mang tính lịch sử tương đối và vẫn còn nhiều sự nghi ngờ khi bàn về lịch sử Hapkido. Choi đã khổ công tập luyện trên 30 năm. Từ Khởi điểm đó Hapkido mới có được những đòn Nhu thuật và Hiệp khí nhu thuật như hiện nay. Trở về nước vào giữa thập niên 1940, Võ sư Choi Yong Sul bắt đầu dạy thứ võ thuật mà ông gọi là ‘Yoo Sool’, thay gì gọi là Ju-Jitsu, chỉ vì lúc đó dân Đại Hàn với lòng căm thù không đội trời chung, không muốn dính dáng gì đến Nhật Bản. Nói một cách trung thực, Võ sư Choi Yong Sul suốt đời hành võ đã đem đến cho môn phái Hapkido các đòn thế đặc sắc của môn võ Daito-Ryo Aiki-Jutsu có từ xưa của Nhật Bản.

Như một định mệnh rất tình cờ, Giám đốc sản xuất rượu bia đầy thành công tên Suh Bok Sup, một đai đen nhất đẳng Nhu thuật Nhật Bản, năm 1948 , chàng thanh niên 24 tuổi Suh đã chứng kiến người đàn ông nhỏ con nhìn đầy nét Nhật Bản tên Choi đã oanh liệt chiến đấu một mình để chống rất nhiều người tất công vây quanh. Với các kỹ thuật đẹp mắt Choi rất nhanh ng khắc chế đối thủ. Ấn tượng với những kỹ thuật của Choi, Giám đốc Suh đã mời Choi đến văn ph*ng của mình và hỏi thăm về kỹ thuật của Choi chiến đấu của ông ta. Sau cuộc gặp gỡ này Suh đã mời Choi vào làm trong xưởng sản xuất của mình, và ngược lại chỉ xin Choi đã dạy cho mình những kỹ thuật chiến đấu rất thực dụng mà anh đã được hạnh kiến.

Suh Bok Sup đã là người giúp đỡ Choi mở trường dạy kỹ thuật tự vệ đầu tiên tại thủ đô Hán thành, chính thức được gọi là môn phái Hapkido vào tháng 2 năm 1951. Suh cũng là môn sinh đai đen đầu tiên của Choi, cùng với những kiến thức trong Ju-Jitsu, Suh đã bổ sung những kiến thức này cho hệ thống Hapkido rất nhiều những kỹ thuật túm, kéo ống tay áo, vai áo, quăng liệng căn bản được dùng trong Hapkio, có thể tìm thấy từ Ju-Jitsu hoặc Judo. Tuy nhiên đến lúc nầy Hapkido chỉ và vẫn được biết đến như một môn võ gia truyền trong dòng võ lớn của Hàn Quốc.

Võ Sư JI, HAN JAE:

Võ Ji Han Jae, một Võ sư được biết nhiều đến vì tài năng đóng phim và đem đến cho Hapkido sự nổi tiếng khắp năm châu, vì các đòn Hapkido tuyệt đẹp của ông dùng trong phim ảnh trong suốt thập niên 60, 70. Nhất là thời gian đóng chung với những phim của tài tử Lý Tiểu Long. Là một cao đồ của võ sư Choi Yong Sul, Ji học võ với võ sư Choi từ năm 1949. Khi được 18 tuổi, Ji đã từng luyện học tập các môn võ cổ truyền trước khi thụ huấn môn Hapkido truyền thống, Vào đầu thập niên 1960, với sực giúp sức của môn đồ là Kim Soo Wong, Võ sư Ji Han Kae đầu tiên chính thức hoàn thành học trình chính thức đầu tiên cho môn phái Hapkido, và có công rất lớn khi đưa các môn sinh của mình trải dài trên khắp mọi lục địa để truyền bá Hapkido.

Căn bản của môn phái Hapkido đặt trên 3 nền tảng nguyên lý chính:

A. Mọi kỷ thuật dựa và đi trên tiến trình vòng tròn, mọi lực khi từ đối phương đến mình phải biến bằng cách đẩy nó theo vòng tròn (circular motion) và phá giải bằng lực ly tâm.

B. Mọi chiến thuật, phải dựa trên căn bản của con nước, tức là mềm mại khi đối đầu với địch thủ, uốn theo chiều tấn công đối phương. Như con nước khi dồn nhiều thành con nước lủ phá phá vỡ mọi thành trì của đối phương khi có cơ hội.

C. Tốc độ phải luyện nhanh như tia chớp, không để đối phương kịp phản ứng kịp khi dùng những kỷ thuật liên hoàn tầm xa dứt điểm trận đấu.


Nhiều người cho rằng, môn Hapkido là khắc tinh của Taekwondo, nói như vậy chỉ là một cách nói rất phiến diện, đầy méo mó, chưa đi sát với đòn thế của môn Hapkido hay chỉ được thấy hoàn toàn qua phim ảnh. Có thể nói Hapkido có nhiều đòn thế khi chiến đấu có thể gây rối loạn, dung hòa với một đối thủ mạnh đặc thù về đòn chân như Taekwondo. Hapkido chính là một sự kết hợp hài hòa của ba môn phái nổi danh Taekwondo, Aikido, và Ju-jitsu. Khi tấn công, Hapkido nặng về Taekwondo, với các đòn đá tầm xa, mạnh bạo và lợi hại; khi ph*ng thủ thì dùng các đòn Ju-Jitsu, với kỹ thuật nhẹ nhàng né trách dùng ‘nhu chế cương, nhược thắng cường’; khi phản đòn thường dùng những kỹ thuật với Aikido để giảm bớt tối đa các lực trấn áp của đối phương với các kỷ thuật tiến thối vòng tròn. Tùy hoàn cảnh mà Hapkido thiên về một môn phái cụ thể hoặc kết hợp cả ba. Đặc biệt cho những đòn thế tự vệ, Hapkido sử dụng nhiều kỹ thuật Aikido pha lẫn với Ju-Jitsu. Người ta dễ dàng tìm thấy hình ảnh của Aiki-Budo qua sự luyện khí của đòn thế Hapkido cao cấp, nhất là trong phần tập khởi động nóng người.

Ngoài quyền, cước và các đòn thế như đã trình bày, nhiều môn vũ khí được tập luyện và sử dụng trong môn Hapkido, như gậy, tiểu côn, song côn, dây, kiếm, dao găm v.v.. Tất cả các loại vũ khí chỉ dành cho các đẳng cấp sau huyền đai (đai đen). Những món vũ khi được luyện tập không ngoài giúp và chuẩn bị cho người tập Hapkido có khả năng dùng mọi thứ vũ khí trong luật định quốc gia cho phép để tự vệ khi bất khả kháng như dây thắt lưng, chía khoá, gậy đi đường, dù che.

Riêng tại Việt Nam, từ năm 1965 thời cao điểm của cuộc chiến Việt Nam, Võ sư Kim Jin Pal, một cao đồ của Võ Sư Ji Han Jae từ Seoul, Đại Hàn. Được sang Việt Nam trong Phái Bộ Điều Tra Tội Ác của chính phủ Nam Hàn (The Republic of Korea Criminal Investigation Division). Trong thời gian tòng sự, ông áp dụng khả năng võ học của ông và lập nhiều thành tích đáng kể, nhất là huấn luyện cho toán đặc nhiệm bảo vệ toà Đại Sứ Đại Hàn. Đầu tiên ông tập trung được một nhóm môn đệ bản xứ và lập Võ đường Nguyễn Huỳnh Đức với tòa nhà 6 tầng khá rộng trực thuộc toà Đại Sứ Đại Hàn, trong 5 năm huấn luyện không hề mệt mỏi ông đã có trên 1000 môn sinh và thành lập (không chính thức) ‘Tổng Hội Hapkido Việt Nam’. Năm 1970, cùng với sự rút quân từ từ của Hoa Kỳ và Đồng Minh ra khỏi Việt Nam, Võ Sư Kim đã ngậm ngùi để võ đường ở Sàigòn lại cho Bác sĩ Phạm Gia Cổn tiếp tục sự nghiệp truyền bá Hapkido tại Việt Nam. Hiện nay Bác Sĩ Phạm Gia Cổn là võ sư 9 đẳng huyền đai, giảng sư y khoa UCLA, sinh sống và tiếp tục huấn luyện Hapkido tại Quận Cam, trực thuộc hệ thống Jin Pal Hapkido (Jin Pal Hapkido Martial Arts Federation), tạo nên 1 trường phái Hapkido lớn mạnh khắp suốt Hoa Kỳ và thế giới.

Hiện tại tại Hàn Quốc nơi khai sinh ra Hapkido, Hapkido đến giờ nầy vẫn chưa có được 1 liên đoàn chính thức đại diện trên thế giới như các môn phái bạn Taekwondo, Karate, Judo v.v.. được thành lập cùng thời, nhiều trường phái với những đặc tính riêng biệt làm cho người tập Hapkido đôi lúc phải vô cùng khó khăn khi phân biệt sự tương và khắc giữa các chi phái, rất nhiều lần Hiệp hội võ thuật chính thức của chính phủ Hàn Quốc đã đứng ra tổ chức các cuộc hợp khoáng đại để giải quyết và thống nhất môn Hapkido thành một liên đoàn duy nhất. Nhưng chuyện đó còn phải cần thời gian khá xa trong 1 quốc gia mà nền võ thuật ngự trị trong khuôn khổ ‘phép vua thua lệ làng’.

blackknight
29/04/2010, 23:03
mấy anh có vẻ am hiểu võ thuật Nhật Bản ghê,nhưng sao hok ai nhắc đến kiếm thuật Nhật Bản zậy?kendo ý:-/

vovinam_tieutu
30/04/2010, 09:47
Kendo: Ken có nghĩa là kiếm, Do có nghĩa là đạo; Kendo -Kiếm đạo hay Đường của kiếm.), là một môn võ thuật đánh kiếm hiện đại của Nhật Bản, phát triển từ các kỹ thuật truyền thống của kiếm sĩ Nhật như kenjutsu. Từ năm 1975, mục đích của Kendo được phát triển bởi Liên đoàn Kendo Nhật Bản để "chuẩn hóa các đặc điểm con người thông qua việc ứng dụng các nguyên tắc của Katana (Kiếm cầm tay tiêu chuẩn của Nhật Bản)" Tuy nhiên, Kendo kết hợp các giá trị võ thuật với các yếu tố thể thao, có người luyện tập ưa thích phần võ thuật cũng có người chuộng phần thể thao

Lịch sử

Khi nhìn lại lịch sử của Kendo, có nhiều mốc quan trọng mà chúng ta không thể bỏ qua.

Điểm đầu tiên là sự hình thành của kiếm Nhật. Kiếm Nhật có hình dạng như ngày nay được xuất hiện vào khoảng giữa thế kỷ thứ 11 (Giữa thời kỳ Heian (794-1185), nó có lưỡi sắc bén với sống hơi cong lên (được gọi là Shinogi). Nguyên bản của nó có lẽ được mô phỏng từ vũ khí của những người kỵ binh trong cuộc chiến tranh ở phía bắc Nhật Bản trong suốt thế kỷ thứ 9. Kể từ đó, kiếm Nhật được sử dụng rộng rãi và kỹ thuật rèn kiếm cũng được phát triển một cách nhanh chóng trong suốt giai đoạn đầu của thời đại các Samurai (Cuối thời kỳ Kamakura ở thế kỷ thứ 13).

Sau khi cuộc chiến tranh Onin xảy ra vào nửa cuối thời kỳ Muromachi (1392-1573), nước Nhật đã rơi vào tình trạng hỗn loạn suốt hơn 100 năm. Trong suốt giai đoạn này, rất nhiều võ đường dạy Kenjutsu đã được thành lập. Vào năm 1543, súng trường đã được mang vào Tanegashima (một hòn đảo nằm ở phía cực nam của Nhật Bản). Kiếm Nhật lúc đó vẫn được rèn theo phương pháp đúc Tatarafuki với bột sắt chất lượng cao thu được trên những bãi bồi ven sông. Tuy nhiên không lâu sau đó, một số lượng súng lớn cũng được sản xuất ra thành công nhờ sử dụng loại bột sắt này với cùng phương pháp đúc. Với kết quả này, những cuộc chiến với giáp trụ nặng dù chiếm ưu thế trước đó nhưng nay đã nhanh chóng chuyển sang những cuộc đối đầu tay đôi nhẹ hơn. Từ những kinh nghiệm chiến đấu thực tế như vậy đã dẫn đến sự phát triển và chuyên môn hoá cho việc rèn kiếm cũng như những kỹ thuật rèn kiếm bằng tay một cách tinh xảo và những kỹ thuật này vẫn được lưu truyền cho đến ngày nay thông qua các võ đường, các lò khác nhau, chẳng hạn như phái Shikage-ryu và phái Itto-ryu.

Nhật Bản bước vào giai đoạn tương đối thanh bình bắt đầu từ giai đoạn đầu của thời kỳ Edo (1603-1867). Trong suốt giai đoạn này, kiếm thuật đã được chuyển biến từ những kỹ thuật giết người sang việc phát triển hoàn thiện con người thông qua tư tưởng (đạo), ví dụ như Katsunin-ken không chỉ bao hàm những lý thuyết về những đường kiếm mạnh mẽ mà nó còn bao hàm những tư tưởng về đời sống kỷ luật của các Samurai. Những tư tưởng này đã được biên soạn công phu, tỉ mỉ trong những cuốn sách nói về nghệ thuật chiến đấu ở giai đoạn đầu của thời kỳ Edo. Ví dụ như: cuốn Heiho Kadensho của Yagyu Munenori; cuốn Fudochi Shinmyoroku của Priest Takuan và được giải thích lại rõ ràng trong cuốn sách của Yagyu Munenori là “Ken to Zen” (Kiếm pháp và Phật giáo); hay như cuốn “Gorin-no-sho” của Miyamoto Musashi. Ngoài ra còn có rất nhiều cuốn sách khác về những học thuyết kiếm đạo được phổ biến trong suốt giai đoạn giữa và nửa cuối của thời kỳ Edo. Rất nhiều trong số đó đã trở nên kinh điển và có ảnh hưởng lớn đến những người tập Kendo ngày nay

Những cuốn sách này được phổ biến nhằm truyền đạt đến các Samurai sống mà không quan tâm đến cái chết. Các Samurai đã hàng ngày nghiên cứu những cuốn sách và được truyền đạt những tư tưởng này, sống một cuộc sống khổ hạnh, trao dồi tu dưỡng tư tưởng và dâng hiến bản thân mình cho cái hay, cái đẹp của võ đạo, học để phân biệt giữa cái đẹp và cái xấu, học để trong trường hợp khẩn cấp sẵn sàng dâng hiến sinh mạng của mình cho gia tộc và chủ nhân của mình. Tinh thần Bushido (võ sỹ đạo) được hình thành trong suốt giai đoạn này và được phát triển trong suốt 246 năm thanh bình của thời kỳ Tokugawa. Thậm chí sau sự sụp đổ của chế độ phong kiến, tinh thần võ sỹ đậo đó vẫn tồn tại trong tư tưởng của người Nhật Bản.

Khi giai đoạn hoà bình vẫn được tiếp tục, trong khi Kenjutsu phát triển thêm nhiều kỹ thuật đẹp mắt mới được đúc kết từ những kỹ thuật chiến đấu thực tế, Naganuma Shirozaemon-Kunisato của phái Jiki-shinkage đã thành lập và phát triển ra một kỹ thuật đánh kiếm mới. Trong suốt thời kỳ Shotoku (1711-1715) Naganuma đã phát triển ra Kendo-gu (các phương tiện bảo vệ) và sáng lập ra phương pháp huấn luyện sử dụng Shinai (kiếm tre). Đây chính là tiền thân của Kendo ngày nay. Sau đó, trong suốt thời kỳ Horeki (1751-1764), Nakanishi Chuzo-kotake của phái Itto bắt đầu phương pháp huấn luyện sử dụng Men bằng sắt (Men-mũ bảo vệ đầu) và Kendo-gu được làm bằng tre, phương pháp này đã nhanh chóng trở nên thông dụng trong các võ đường chỉ sau một thời gian ngắn. Trong thời kỳ Kansei (1789-1801), các cuộc thi đấu giữa các võ đường đã trở nên phổ biến và các Samurai thường đi ra các vùng bên ngoài để tìm kiếm những đối thủ mạnh hơn nhằm hoàn thiện kỹ năng của mình.

Trong nửa cuối của thời kỳ Edo (bắt đầu từ thế kỷ thứ 19), nhiều loại dụng cụ tập luyện mới đã được sáng tạo ra ví dụ như Yotsuwari Shinai (Kiếm tre được ghép lại từ bốn thanh tre). Cây Shinai mới này có độ co dãn tốt hơn, bền hơn và nó đã được dùng thay thế cho Fukuro Shinai (kiếm tre theo đúng nghĩa đen và có bao kiếm bên ngoài). Đồng thời, Do (Giáp che cơ thể) đã được gia cố thêm bằng da và được quét sơn bên ngoài. Trong thời kỳ này có 3 Dojo (võ đường) lớn được biết đến như là “3 võ đường lớn của thời kỳ Edo - Three Great Dojos of Edo”, đó là Genbukan được dẫn dắt bởi Chiba Shusaku, Renpeikan được dẫn dắt bởi Saito Yakuro và Shigakkan được dẫn dắt bởi Momoi Shunzo. Chiba cố gắng hệ thống hoá các kỹ thuật tập luyện (Waza) của kiếm tre từ 68 kỹ thuật của Kenjutsu, những điểm được cho là nổi bật nhất. Những kỹ thuật này như là Oikomi-men và Suriage-men và rất nhiều các kỹ thuật khác được đặt tên bởi Chiba vẫn đang được sử dụng cho đến ngày nay.

Sau cuộc cách mạng Meiji năm 1868, tầng lớp Samurai đã bị xoá bỏ và việc đeo kiếm đã bị cấm. Với kết quả này, rất nhiều các Samurai đã bị không có việc làm và Kenjutsu đã suy tàn một cách nhanh chóng. Sau đó, cuộc xung đột Seinan bắt đầu vào năm thứ 10 của thời kỳ Meiji (1877), đó là sự khàng cự của các Samurai chống lại Chính phủ nhưng đã không thành công, tuy nhiên nó được xem như đã mang lại sự phục hồi của Kenjutsu ngay chính trong lòng lực lượng cảnh sát thủ đô Tokyo. Vào năm thứ 28 của thời kỳ Meiji [1829], tổ chức Dai-Nippon Butoku-Kai được thành lập với tư cách là một tổ chức quốc gia để đẩy mạnh sự phục hồi của Bujutsu trong đó có cả Kenjutsu. Trong khoảng thời gian 1899, Bushido, được coi như là những tài liệu về các suy nghĩ và triết lý của các Samurai, đã được phổ biến và dịch sang tiếng Anh. Nó đã có sức thuyết phục và ảnh hưởng trên toàn thế giới.

Trong năm đầu tiên của thời kỳ Taisho [1912], tổ chức Dai-Nippon Teikoku Kendo Kata (sau đó được đổi tên thành Nippon Kendo Kata) được thành lập và sử dụng từ Kendo. Sự thành lập của Kendo Kata đã đem lại sự thống nhất rất nhiều võ đường, nhằm mang lại tồn tại và phát triển các kỹ thuật và tinh thần của kiếm đạo Nhật Bản, đồng thời để đưa ra những biện pháp sửa những lỗi sai do sử dụng tập luyện kiếm tre và chuẩn hoá những điểm đánh không đúng. Nó cũng nhấn mạnh rằng kiếm tre được thay thế cho kiếm thật trong tập luyện và cũng phải được đối xử như kiếm thật.

Sau chiến tranh thế giới thứ 2, Kendo đã bị tạm dừng dưới sự chiếm đóng của quân đồng minh. Trong năm 1952, khi Liên đoàn Kendo Nhật Bản(All Japan Kendo Federation) được thành lập, Kendo mới sống lại và tiếp tục phát triển. Kendo ngày nay đóng vai trò quan trọng trong sự giáo dục ở trường học và rất nhiều người già, trẻ, gái, trai đều yêu thích, có hàng triệu người ở mọi lứa tuổi đang tham gia tập luyện Kendo đều đặn . Ngoài ra, Kendo cũng đang được yêu thích trên toàn thế giới, có ngày càng nhiều người tập Kendo tại các nước. Liên đoàn Kendo quốc tế (The International Kendo Federation – FIK) được thành lập vào năm 1970 và giải Vô địch Kendo Thế giới được tổ chức 3 năm một lần và lần đầu tiên tại Nippon Budokan trong cùng năm đó. Vào tháng7 năm 2003, giải Vô địch Kendo Thế giới lần thứ 12 được tổ chức tại Glasgow, Scotland. Những người tập Kendo đến từ 41 quốc gia và các vùng lãnh thổ khác nhau

Dụng cụ tập luyện

Thanh kiếm tre shinai được dùng thay thế cho thanh kiếm Nhật Katana trong tập luyện và nó được làm từ bốn thanh tre ghép lại, giữ chặt với nhau bằng các miếng da. Ngày nay còn có thêm cây Shinai được làm từ vật liệu carbon được gia cố bằng các thanh nhựa tổng.

Kendoka (những người tập kendo) cũng thường sử dụng những thanh kiếm gỗ cứng để tập luyện kata

Bộ giáp bảo vệ được dùng để bảo vệ các bộ phận chính, là mục tiêu trên cơ thể là đầu, cổ tay và thân.

Đầu được bảo vệ bằng một loại mũ đặc biệt với lưới sắt để bảo vệ mặt, kết cấu bằng da và bìa cứng để bảo vệ đỉnh đầu, cổ và hai bên vai.

Cẳng tay, cổ tay và bàn tay được bảo vệ bằng loại găng tay dài, dầy và có đệm

Phần hông được bảo vệ bằng áo giáp

Võ phục

Bộ võ phục mặc bên trong bōgu bao gồm một áo khoác (kendogi or keikogi) và hakama, một loại quần có dây buộc ở thắt lưng với 2 ống quần rất. Cái khăn bằng cotton được quấn quanh đầu trước khi đội men dùng để thấm mồ hôi đồng thời làm cho “men” được đội chặt

Tập luyện

Tập luyện Kendo khá ồn ào khi so sánh với các môn võ hay các môn thể thao khác. Bởi các kendōka thường sử dụng tiếng thét, để biểu lộ tinh thần thi đấu và đe doạ đối phương. Đồng thời các kendōka cũng sử dụng các bước dậm chân để tăng thêm sức mạnh của đòn đánh.

Cũng giống như các môn võ thuật khác của Nhật Bản, các kendoka tập luyện và thi đấu với chân không. Vì vậy Kendo được tập luyện lý tưởng nhất là ở trong các võ đường hoặc nhà thi đấu dōjō lớn với sàn gỗ sạch và có độ đàn hồi tốt cho động tác dậm chân fumikomi-ashi.

Theo như truyền thống của kiếm đạo Nhật Bản là nhất chiêu tất sát (chỉ cần một chiêu là giết được đối thủ), vì vậy các đòn đánh của kiếm đạo thường nhằm vào những chỗ hiểm yếu trên cơ thể. Đó là chém vào đỉnh đầu, chém vào hông nơi giữa xương sườn và xưong chậu, chém vào cổ tay và đâm vào cổ họng. Tập luyện kendo ngày nay các kendoka cũng tập trung vào các điểm đánh này và các điểm này đều có giáp bảo vệ. Những mục tiêu cụ thể là men, sayu-men hoặc yoko-men (bên trái hoặc bên phải phía trên đỉnh đầu), cổ tay kote bên phải vào bất cứ lúc nào hoặc cổ tay bên trái khi tay đang ở trên cao, và phần hông bên trái hoặc bên phải dō. Đòn đâm chỉ được phép đâm vào cổ họng. Tuy nhiên với những cú đâm trượt vào cổ họng rất nguy hiểm, có thể gây chấn thương nghiêm trọng, vì vậy những đòn đâm này được giới hạn chỉ cho những người ở cấp độ 1 dan trở lên.

Khi một kendoka bắt đầu tập luyện với giáp, các bài tập luyện có thể là một hoặc tất cả các bài tập sau

Kiri-kaeshi :Chém liên tục bên trái và bên phải của Men bằng 4 bước tiến và 5 bước lùi, mục đích là tập luyện để giữ vững trọng tâm, khoảng cách và các kỹ thuật, đồng thời cũng để nâng cao tinh thần và thể lực.
Waza-geiko : waza là các kỹ thuật, chiến thuật tập luyện để các kendoka rèn luyện và chuẩn hoá các kỹ thuật trong kendo.
Kakari-geiko :Đánh nhanh, liên tục và mạnh mẽ trong một khoảng thời gian ngắn, mục đích để rèn luyện sự tỉnh táo và sẵn sàng trong mọi đòn đánh, đồng thời cũng để nâng cao tinh thần và thể lực.
Ji-geiko : Đánh tự do, sử dụng tất cả những gì mình học được để thi đấu với người cùng tập.
Gokaku-geiko : Tập luyện giữa 2 kendoka có cùng đẳng cấp.
Hikitate-geiko : Tập luyện dưới sự hướng dẫn của kendoka cấp cao hơn.
Shiai-geiko : Thi đấu có trọng tài.

[sửa] Mục đích tập luyện của Kendo
Rèn luyện trí óc và thân thể
Trau dồi tu dưỡng sức mạnh tinh thần
Thông qua cách tập luyện đúng và nghiêm khắc:
Để cố gắng phát triển nghệ thuật của Kendo
Gìn giữ tính nhân bản, sự tôn trọng và lịch sự giữa con người.
Để kết giao với mọi người trên cơ sở chân thành, ngay thật.
Và luôn luôn tự trau dồi tu dưỡng bản thân.

nguồn : http://vi.wikipedia.org/wiki/Kendo

blackknight
30/04/2010, 19:49
em nghe ở Việt Nam có hội wán mở ra để dạy kiếm thuật thì phải,hok biết học co đắt hok nhi?1 thanh kiếm gỗ giá đã 300USD rùi....

vovinam_tieutu
30/04/2010, 19:59
em nghe ở Việt Nam có hội wán mở ra để dạy kiếm thuật thì phải,hok biết học co đắt hok nhi?1 thanh kiếm gỗ giá đã 300USD rùi....

ở hà nội cũng có khá nhiều nơi dạy kendo đấy. em thử truy cập vào trang web aikibudohanoi.net để tìm kiếm thông tin xem :):):):):) đây là diễn đàn về võ thuật nhật bản hà nội, em thử họi các anh ở đấy xem :):):):):)

vovinam_tieutu
20/05/2010, 11:22
Nói đến công phu Trung Hoa, ít ai biết đến môn võ nổi tiếng từ hơn 300 năm nay, từng được hoàng đế Khang Hy khen thưởng. Lý do ít người biết vì trước đây Bát Cực quyền truyền thụ theo lối bí truyền trong cộng đồng người Hồi.
Nơi phát nguyên Bát Cực quyền là Mạnh Thôn, thuộc khu tự trị dân tộc Hồi, cách Thương Châu tỉnh Hồ Bắc 37 km về hướng đông-nam. Dân ở đây vốn thiện chiến, có tinh thần thượng võ. Ngày trước, các tiêu sư bảo tiêu hàng hóa qua Thương Châu là xếp cờ lặng tiếng, không dám “hám tiêu”(hô tên tiêu cục của mình để mọi người tránh đường) vì cao thủ võ lâm ở đây rất nhiều, động vào dễ rách việc, do đó mới có câu “Tiêu bất hám Thương Châu”.
Mạnh Thôn Bát Cực quyền hình thành và phát triển từ đầu đời Thanh (khoảng năm 1644). “Bát cực” nghĩa là khi ra đòn, kình lực phát ra cả bốn phương, tám hướng. Môn quyền này pha trộn giữa phương pháp tự vệ cổ xưa của người Ả-Rập với các môn võ Trung Hoa như Thiếu Lâm, Võ Đang, Không Động… có đặc tính cương mãnh, chủ về tấn công, thường áp dụng chiêu thức Liên Châu Pháo trong cận chiến, thế mạnh như trương cung, đòn thế phát ra như sấm sét, lâm trận đối địch mạnh bạo, dữ dội, phát huy tối đa lực tấn công ở nắm tay, cùi chỏ, gối, đầu, sức công phá cực mạnh.
Bát Cực quyền có tính thực dụng cao, trong giới võ lâm từng có lời khen rằng “Văn dụng Thái Cực an thiên hạ, Võ hữu Bát Cực định càn khôn”- tức là Văn dùng Thái cực có thể an thiên hạ, Võ có Bát Cực quyền có thể định trời đất, điều này chứng tỏ Bát Cực quyền có tiếng vang rất lớn trong võ lâm Trung Quốc đương thời.
Đời vua Khang Hy triều Thanh, có hai đại lực sĩ người Nga sang thách đấu, hạ gục nhiều cao thủ Trung Quốc, hống hách tự xưng là thiên hạ vô địch. Cuối cùng, quyền sư Đinh Phát Tường chuyên luyện Bát Cực quyền ở Mạnh Thôn đã lên kinh thượng đài, sử dụng chiêu thức đặc dị của Bát Cực quyền, lần lượt hạ gục cả hai đại lực sĩ trước sự chứng kiến của hoàng đế Khang Hy và triều thần. Vua Khang Hy rất tán thưởng võ công của Đinh Phát Tường, ban tặng ông danh hiệu “Thiết tráng sĩ võ hiệp”. Bát Cực quyền từ đó lừng danh thiên hạ, nhiều nhân tài võ thuật ra đời từ Mạnh Thôn.
Hiện nay, người kế thừa và phát dương tinh hoa Bát Cực quyền ở Mạnh Thôn là võ sư Đinh Nhuận Hoa, hậu duệ đời thứ 13 của quyền sư Đinh Phát Tường. Đinh Nhuận Hoa thân hình vạm vỡ, cường tráng, hiện là Chủ tịch Hiệp hội võ thuật khu tự trị dân tộc Hồi tỉnh Hồ Bắc, chủ nhiệm Võ quán Tinh Anh Bát Cực Quyền, trực tiếp huấn luyện hơn 3.000 môn đồ. Năm mười tuổi, Nhuận Hoa bái quyền sư Đinh Ngọc Lâm, là cố vấn tối cao Liên hiệp hội học thuật Bát Cực quyền Thiên Tân làm thầy. Hơn 10 năm khổ luyện, từ năm 1956 Đinh Nhuận Hoa tham gia thi đấu tại các Hội thi võ thuật toàn quốc, tỉnh thành và nhiều lần đoạt giải quán quân.
Bát Cực quyền hiện lưu truyền rộng rãi ở bắc Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, là môn võ được truyền dạy trong hệ thống quân đội và cảnh sát vì có nhiều đòn hiểm và tính thực chiến cao.

v8_kun_kun_t4
07/08/2010, 16:20
hình như bát cực quyền hay được luyện kèm với phách quải quyền thì phải :D

fomcdf
07/08/2010, 22:12
Có ai biết võ gì hiệu qua trực chiến chứ ko chỉ đẹp để múa ko thì giới thiệu cho tớ với. Xã hội bây giờ đâm thuê chém mướn như cơm bữa :D :D

bjmvsb0p
07/08/2010, 23:31
võ nào cx hiệu qả hết :D
còn nếu đánh nhau mà có đồ thỳ đỡ sao nổi, cùng lắm là chỷ có trên film thôi (:|

vovinam_tieutu
08/08/2010, 12:05
thường thì các môn võ nếu như có các đặc trưng gần giống nhau thì có thể luyện cùng với nhau dc. điều này thì chỉ những người am hiểu có thể nói rõ với bạn dc còn nếu như bạn muốn tự tìm hiểu cũng ko khó khăn lắm, mình cũng có hiểu biết chút ít nên có thể nói qua cho bạn :):):):):). võ công trung quốc chia thành nội gia và ngoại gia, và các môn phái theo cùng dòng thì có thể luyện chung với nhau và khác dòng chỉ có thể luyện chung khi võ công của mình đã đạt đến 1 trình độ nhất định.
còn về thực chiến thì môn nào cũng đều có khả năng thực chiến hết bởi khi 1 môn phái dc lập ra hay 1 võ đường, câu lạc bộ dc mở đều có người đến thách đấu hết. có người cậy khỏe, có người cậy vũ khí, có người cậy nhanh nhẹn ..... nên nếu như người sáng lập mà võ công kém thì môn phái, clb, võ đường... mà họ sáng lập sẽ khó hoạt động dc suôn sẻ dc và sẽ bị biến mất nhanh chóng. và việc sử dụng võ công cũng tùy từng người, ko phải chỉ có học là có thể đánh nhau mà còn phải biết luận võ, nhìn vào 1 bài quyền biết cách tách chiêu và có thể ứng dụng dc, đây mới là học võ đích thực. còn nếu học chỉ để đánh dc 1 bài quyền mà ko ứng dụng thì sẽ chỉ là học theo phong trào thôi :):):) ngoài ra bạn học võ còn phải tùy thuộc vào thể chất của bạn nữa. bạn yếu thì ko thể học môn võ cương quá dc mà bạn quá khỏe thì ko thể luyện 1 môn công phu tuỵêt nhu dc vì như thế sẽ gây sự khó chịu cho bạn trong luyện tập. vì vậy bạn muốn học võ thì nên chọn 1 môn võ phù hợp với bạn hơn la nghe hơi từ người khác như là môn này thế này, thế nọ mà đi học thì chỉ ảnh hưởng đến việc luyện võ của ban thôi, :):):):):)

vovinam_tieutu
08/08/2010, 12:17
đây là chút thông tin cho bạn tham khảo nhé :):):):):):)
nguồn: http://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%C3%A1ch_qu%E1%BA%A3i_quy%E1%BB%81n

Phách quải quyền tên gọi đầy đủ là Thông bị Phách quải quyền, thời cổ từng gọi là Phi quải quyền, hai chữ phi và phác đọc âm giống nhau, phi là xẻ ra, phách là bổ ra; nghĩa cũng gần giống nhau, còn được biết dưới tên khác là Phi quải chưởng ), do môn này chú trọng những chiêu thức thủ pháp là chưởng pháp (dùng lòng bàn tay), thường được diễn luyện chung với Bát cực quyền.

Đây là bộ môn quyền thuật thuộc miền Bắc Trung Hoa có lịch sử lưu truyền khá lâu đời

Nguồn gốc

Tương truyền vào giữa thời nhà Minh môn quyền này đã được lưu truyền tương đối rộng rãi trong dân gian. Viên tướng nổi tiếng thời nhà Minh là Thích Kế Quang viết trong "Kỷ Hiệu Tân thư" nhiều chỗ luận thuật về Phách quải quyền, như ở Quyền kinh tiệp yếu biên có nói: "Quyền xẻ bổ ngang mà nhanh vậy", trong đó có chữ "phi" có ý là xẻ treo áo chiến lên, "phách", "hoành" đều chỉ chiêu pháp của quyền thuật.

Vào khoảng năm Gia Khánh thời nhà Thanh, có hai lưu phái lớn của Phách quải quyền được phát triển mạnh ở vùng Hà Bắc, lưu phái thứ nhất là Phách quải quyền của Tả An Mai, còn gọi là Tả Bát gia, tại Tiểu gia trang ở Diêm Sơn, thuộc tỉnh Hà Bắc được gọi là Thông phách môn; lưu phái thứ hai là Phách quải quyền của Quách Đại Phát ở Nam Bì, thuộc tỉnh Hà Bắc được gọi là Phách quải Thông tý . Hai lưu phái này có hệ thống bài quyền khác nhau hoàn toàn và có những nét đặc sắc riêng.

Gần trăm năm lại đây, lộ một tử quyền của loại quyền Thông bị, Phách quải quyền truyền bá khá rộng nên xưa gọi Thông bị là Phách quải môn.

Năm 1928, dưới thời Trung Hoa Dân Quốc của Tưởng Giới Thạch, thượng tướng lục quân Trương Chi Giang phụ trách trường võ thuật Trung Ương Quốc Thuật Quán đã chiêu mộ nhân tài các danh thủ của các danh quyền và võ phái khắp miền nam bắc thành đội ngũ võ thuật quốc gia, trong lúc đại hội quần hùng hợp sức, các truyền nhân của hai đại phái Phách quải quyền được mời ra góp sức.

Các lưu phái Phách quải quyền

Thời Trung Hoa Dân Quốc tại Trung Ương Quốc Thuật Quán truyền nhân chi phái của Tả An Mai ở Diêm Sơn là Mã Anh Đồ và truyền nhân của Quách Đại Phát ở Nam Bì là Quách Trường Sinh giao tình thân thiết rất tâm đầu ý hợp, đã cùng nhau hợp tác và phá vỡ lối bảo thủ cổ truyền cùng nhau chỉnh lý và xây dựng chung thành một hệ phái lớn Phách quải quyền được truyền dạy cho đến ngày nay, làm cho Phách quải quyền tiến triển vượt bậc về mặt kỹ pháp chiến đấu và hệ thống lý luận.

Cũng trong thời gian này Mã Anh Đồ và Quách Trường Sinh đã cùng nhau xây dựng các bài binh khí rất nổi tiếng của Phách quải quyền và các bài binh khí này trở thành các bài chính thức của Wushu hiện đại, như bài Phách quải đao, Phong ma côn, ...

Cũng có lưu thuyết nói rằng Phách quải quyền và Bát cực quyền có cùng một nguồn gốc và đã bị tách ra cách đây hàng trăm năm. Hiện nay ở Đài Loan có lưu hành loại quyền thuật hỗn hợp hai loại vừa Phách quải quyền và Bát cực quyền trong cùng một hệ thống quyền pháp.

Trong quá trình phát triển, Phách quải quyền đã tích hợp 24 chiêu thức tinh hoa trong quyền thuật (giá tử) của Thông bối quyền (nhị thập tứ thủ tinh hoa) để nâng cao tầm hữu dụng trong đấu pháp thực chiến, hệ Phách quải quyền này phát triển mạnh ở Thương Châu thuộc tỉnh Hà Bắc (Trung Quốc) và có tên là Phách quải công Thương Châu, do đó những danh thủ Phách quải quyền ở Thương Châu cũng là danh thủ Thông bối quyền. Đây chính là lưu phái Thông bị Phách quải quyền Thương Châu.

Đặc trưng kỹ pháp

Thông bị phách quải quyền lấy 12 loại lớn, "giá tử lớn" làm cơ bản công để huấn luyện. Bài bản chủ yếu là lộ một phách quải quyền, lộ hai thanh long quyền, lộ ba phi hổ quyền, lộ bốn Thái thúc quyền và lưu thoái thế (rút chân), giá tử lưu thoái, thông bị 10 lộ đàn thoái v.v...

Về binh khí có ký thương (thương lạ), lục hợp đại thương, phách quải đao, phách quải song đao, thông bị tiểu kiếm, thất thập nhị kiếm, lan môn quyết (cọc ngắn chắn cửa), phong đầu câu, 55 hình (côn), 88 côn, phong ma côn (mài gió), tam tiết côn. Đặc điểm ở đây là đóng rộng mở lớn, cương nhu giúp nhau, lấy dài làm chủ lại kiêm cả ngắn để ra đòn. Về đường kình (kình đạo) thì chú trọng "cổn kình" (lăn kình), thôn thổ kình (nhả nuốt kình), lộc lộc kình (kình ròng rọc), phách quải kình (bổ treo).

Về kỹ pháp chú trọng vươn ra thì phải mở lớn khép rộng, thương dài kích lớn; thu về thì thế ngắn đốt mạnh, quấy dựa vào sức nặng cánh tay như có như không. Về thủ pháp thù lấy hút, bật, bổ, treo, vứt , chém làm chủ. Quyền pháp truyền tập lấy mạnh la giá tử (giá khéo chậm), khoái đả quyền (quyền đánh nhanh), cấp đả chiêu (chiêu đánh gấp) làm phép tắc tập luyện.

Về phong cách, Phách quải quyền và Thông bối quyền rất giống nhau, ở một phương diện nhất định, hai môn này có hệ thống lý luận gần nhau tựa như cùng một nhánh các bộ môn quyền thuật miền Bắc Trung Hoa. Tuy nhiên cách tiếp cận về kình pháp và kỹ xảo có phần khác nhau đôi chút, nhất là trong phần kết cấu các bài quyền.

Phách quải quyền chú trọng đại khai, đại hợp, dũng mãnh cương quyết, cương nhu phối hợp khai triển; về kỹ thuật yêu cầu cánh tay vòng, cổ tay hợp, vặn hông xoay eo, tất cả cánh tay, cổ tay, eo hông, vai, khuỷu tay (cùi chỏ) đều phải buông lỏng và phối hợp cùng lúc khi phát kình nên rất giống Thông bối quyền ví về phép vận khí hóa kình "eo hông là thân roi, tay là đầu roi, hai chân là cán roi" y hệt như đàn kình (kình co bật và đàn hồi) trong Thái cực quyền.

So với Thông bối quyền, số bài quyền (sáo lộ) của Phách quải quyền ít hơn, lưu truyền sớm nhất có bốn bài: Nhất lộ Phách quải, Nhị lộ Thanh Long, Tam lộ Phi Hổ, Tứ lộ Thái phục.

Hiện tại ở Thương Châu có lưu truyền các bài: Khoái sáo Phách quải (Phách quải nhanh), Nhạn sáo Phách quải (Phách quải chậm), Thanh Long quyền, Quải quyền, Pháo quyền; về bài binh khí thì có các bài sau: Phách quải đao, Phong ma côn, Miêu đao có hai bài, ... cùng một số binh khí khác.

Thông bối quyền không những có nhiều lưu phái hơn Phách quải quyền mà các hệ thống bài quyền (sáo lộ) cho đến các bài binh khí cũng nhiều hơn, đa dạng hơn, phong phú hơn.

Các bài quyền của Phách quải quyền thường ngắn gọn, độ tinh túy và mỹ cảm cao, dũng mãnh; trong khi Thông bối quyền thì có bài dài ngắn lớn nhỏ đầy đủ hơn.

Về kình pháp, Phách quải quyền và Thông bối quyền đều chú trọng Tiên kình (kình đi trước động tác quyền thuật) làm cơ sở nhưng Phách quải quyền khai triển thêm Phiên chỉ kình (kình lật bàn tay xỉa) và Lộc lô kình (kình phóng liên tiếp ào ạt); trong khi Thông bối quyền khai triển thành Lãnh đàn kình (kình lẫy nhanh gọn và có độ bật cao như cò súng) để phối triển thêm các loại kình khác như tụy kình (kình nhanh gọn dứt khoát) , khoái kình (kình chớp như điện xẹt sao băng), cấp kình (kình gấp rút dồn dập), ngạnh kình (kình rắn chắc mạnh mẽ), trầm kình (kình dài và sâu ẩn), trường kình (kình xa phóng liên miên không dứt), miên kình (kình ảo diệu biến hóa liên tục) , nhuyễn kình (kình cuốn hút và mềm như bông), xảo kình (kình khéo léo và linh hoạt).

So với Bát cực quyền, Phách quải quyền thường dùng các đường quyền chuyển động theo hình vòng cung tròn tạo ra sức ly tâm kết hợp chuyển động nhẹ nhàng của vùng eo, hông; trong khi Bát cực quyền có những chuyển động nhanh đột ngột vùng eo hông và kết hợp động tác rất mạnh bạo vũ bão của cả cánh tay khi vung chưởng phóng quyền. Điểm giống nhau giữa Phách quải quyền và Bát cực quyền là lối đánh đá ào ạt và tấn công dồn dập, thế quyền mang tính lấn át hung hãn hơn so với Thông bối quyền.

vseln_vslek
10/08/2010, 18:30
thang hiep dien dai ka hang day :)) sau 1 hoi cang thang do biet bao mo hoi cong suc chi da lap duoc nick o dien dan:))

ma hiep oi :-s tao muon viet bai thi phai lam the nao :-s

vovinam_tieutu
11/08/2010, 12:06
viết bài hôm qua rồi đấy tình yêu ơi, còn hỏi gì nữa @@ hôm qua dám trốn học ở nhà để lên diễn đàn nhé, tình yêu có gì thứ 5 đến chết với tôi :-w:-w:-w mà anh em ở clb nhớ tình yêu lắm đấy >:)>:)>:) ngày mai nhơ đi tập và tối nay nhớ đi uống cafe đấy nhớớớớơơ ;););););)

bjmvsb0p
12/08/2010, 14:47
ông a này toàn giới thiệu mấy môn võ chẳng giống ai :|
h này ng ta đâm đầu vào taekwondo. aikido, karate. wushu, judo... :))
toàn cop mấy môn chẳng ai být, chẳng ai học (:|

vovinam_tieutu
12/08/2010, 21:49
sao lại ko giống ai hả em????????? mỗi môn võ có thể tồn tại dc thì nó cũng phải có nguyên nhân của nó chứ, còn đây là anh chỉ muốn giới thiệu là ngoài các môn võ mọi người đã biết nhiều thì còn có các môn võ khác, tuy ko dc nổi tiếng bằng nhưng độ thực chiến, tính hiệu quả và trình độ kĩ thuật cũng ko thua kém các môn kia. chỉ do 1 vài nguyên nhân mà ko dc nổi tiếng bằng thôi. nếu em đi sâu tìm hiểu thì em có thể biết em ạ. đừng lên coi thường 1 môn võ nào dù nó có ko nổi tiếng đi chăng nữa. đấy là điều mà anh rút ra dc sau 1 thời gian tập luyện võ thuật đấy em :):):):)

bjmvsb0p
13/08/2010, 13:08
giời ơi, ông a học võ đk bao lâu mà đòi dạy e :-?

vovinam_tieutu
13/08/2010, 14:43
:)):)):)):))
nếu em nhìn vào màu đai của anh thì em sẽ bảo anh học dc 9 tháng.
nếu em nhìn vào thời gian anh vào phái thì là hơn 2 năm
nếu em nhìn vào thời gian anh hoạt động luyện tập thật sự thì chưa quá 1 năm
một thời gian ko hề lớn đâu em nhé :)):)):)):))
tất nhiên có thể em vào môn phái của em và tham gia hoạt động luyện tập lâu hơn anh chứ. và nếu nói như em thì có thể anh hoàn toàn ko có khả năng dạy em vì anh có thời gian tập ít hơn em chứ gì? ok. có thể là như thế thật chứ sao nhưng anh xin hỏi em 1 câu, sau bao năm luyện tập đó của em, sao em lại ko tôn trọng những môn phái đã dc thành lập nhỉ. liệu em có khả năng thành lập 1 môn phái hay võ đường như họ ko mà giờ em lại chê những môn đó là chẳng giống ai? ừ thì nhiều người bảo học võ là phải ôn hoà, phải biết nín nhịn, ko dc tự cao tự đại và anh cũng nói thật rằng những điều này nhiều lúc anh cũng ko làm dc và tất nhiên như thế anh cũng chẳng có tư cách để mà dạy em nhưng em ơi, nếu nói theo cái kiểu dó thì em cũng chẳng hơn anh là bao nhiêu đâu em ạ. đây là những điều anh nói hoàn toàn thực lòng và như người khác nói thì sự thật mất lòng nên cho dù em ko vừa ý thì cũng chẳng sao cả nhưng anh mong rằng em đừng lên coi thuờng các môn phái khác như thế em nhé

crystal_life
13/08/2010, 16:40
Post vài bài về Vĩnh Xuân đi vovinam_tieutu!
^_^

bÔng
13/08/2010, 17:21
A ơi! Taekwondo có fải là võ nkật pản k ạ ! :-?

vovinam_tieutu
13/08/2010, 18:05
theo như mình dc biết thì taekwondo là môn võ của hàn quốc và môn võ này hình thành từ rất lâu rồi nhưng mang 1 tên gọi khác, về sau mới xuất hiện taekwondo như bây giờ nhưng là sự kết hợp của võ thuật hàn quốc kết hợp với 1 chút karatedo va jujitsu của nhật bản. tuy nhiên taekwondo vẫn dc coi là môn võ của hàn quốc và dc cả thế giới công nhận :):):):):):):):):) em có thể xem thêm về môn võ này tại đây:
http://vi.wikipedia.org/wiki/Taekwondo

bÔng
13/08/2010, 18:46
Hóa ra là thế, e có học qua môn võ này nhưg tại chữ viết trên áo giống nhật bản nên e lầm tưởg là võ NB :D

vovinam_tieutu
13/08/2010, 18:56
trang web của vĩnh xuân việt nam: http://www.wingchun.com.vn/


Vịnh Xuân quyền ( Wing Chun, ving tsun, Wing Tsun, Wing Chun kuen, Wingchun-kuen) còn được biết đến dưới tên gọi là Vĩnh Xuân quyền , Vịnh Xuân Công Phu hay Vịnh Xuân phái là một môn võ thuật có nguồn gốc từ Nam Thiếu Lâm tại tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc. Bên cạnh thiểu số cho rằng rất có thể môn phái đã có lịch sử không dưới 400 năm, hầu hết đều khẳng định nguyên khởi Vịnh Xuân quyền từ phong trào phản Thanh phục Minh cách đây chừng 2 thế kỷ. Môn phái đã du nhập đến các quốc gia lân cận và phương Tây trong thời hiện đại, sau khi sự thành đạt của Lý Tiểu Long trên màn ảnh những thập niên 70 đã giúp phát dương quang đại hình ảnh môn phái khắp thế giới, đưa Vịnh Xuân quyền từ chỗ chỉ được truyền dạy âm thầm trong các gia tộc trở thành một trong những phái võ thuật được nhiều người biết đến và say mê luyện tập nhất, với hàng triệu đệ tử và hàng chục chi phái trên toàn thế giới.

Lịch sử và tên gọi của môn phái
Cho đến nay, những cứ liệu lịch sử chính xác về quá trình hình thành, phát triển của môn phái vẫn còn chìm trong mây mù của thời gian. Nhưng có một điểm hầu hết các thuyết đều thống nhất, đó là thời gian ra đời của môn phái nằm trong khoảng giai đoạn phong trào phản Thanh phục Minh ở Hoa lục, cách ngày nay trên dưới 200 năm, đang phát triển rầm rộ. Chi tiết hơn về niên đại, Vương Thái trong Sổ tay Võ thuật còn viết: "Võ phái Vịnh Xuân ra đời gần 2 thế kỷ, vào năm Gia Khánh đời Thanh (1810), thuộc Nam Phái Thiếu Lâm"

Một số học thuyết về lịch sử môn phái đã nhấn mạnh vai trò sáng tổ của các nhân vật có liên quan đến phong trào khởi nghĩa dưới ngọn cờ khôi phục Minh triều thông qua việc chiết tự tên môn phái. Theo đó, chữ Xuân 春 được hiểu bao gồm 3 chữ Đại , Thiên và Nhật (ánh sáng bao la khắp gầm trời) ngầm ý chỉ nhà Minh, và chữ Vĩnh với ý nghĩa mãi mãi, hoặc chữ Vịnh có ý nghĩa ca ngợi.

Một thuyết khác cho rằng tổ sư của môn phái võ Vĩnh Xuân quyền là Nghiêm Vịnh Xuân, con gái của Nghiêm Nhị, học trò của Ngũ Mai lão sư thái. Sau đó Nghiêm Vịnh Xuân truyền lại cho chồng là Lương Bác Trù, Lương Bác Trù sau đó phát triển môn võ và đặt tên là Vịnh Xuân Quyền.

Một thuyết khác lại cho rằng, Vịnh Xuân Quyền bắt nguồn từ một người hát kịch và giỏi võ thuật dưới triều Hoàng Đế Ung Chính (1723-1736) tên là Trương Ngũ, tự Than Thủ Ngũ ở Hồ Nam đến Phật Sơn truyền lại môn võ này và rồi truyền từ Than Thủ Ngũ tới Hoàng Hoa Bảo, Lương Nhị Để và Đại Hoa Diện Cẩm (A Cẩm)


Đặc điểm
Bàn về hệ thống kỹ thuật của Vịnh Xuân quyền, trên sự quan sát bề nổi của nhiều người, đó là cảm nhận về một hệ thống khá đơn giản với vài ba bài quyền, một bài côn, một bài đao và một bài mộc nhân thung. Thật hiếm có một võ phái nào khác chỉ dựa trên nền tảng một vài bài quyền và bài binh khí như vậy. Tuy nhiên, Vịnh Xuân quyền không nhấn mạnh vào tính hình thức và do đó rất khó khăn để trở thành một hệ thống để biểu diễn. Các bài quyền không phản ánh tính chất quy ước cho các chiêu thức, phân thế cụ thể từng chiêu tấn công hay phòng thủ (chẳng hạn như một số võ phái dạy đòn thế theo kiểu khi đối phương đấm thì ta đỡ thế nào và phản công ra sao), mà là những nguyên lý tấn công và phòng thủ rất cần sự sáng tạo của môn sinh khi ứng dụng thực chiến.

Theo những võ sư Vịnh Xuân lão luyện, yếu lĩnh tự nhiên tính được đề cao hàng đầu, vì vậy những người cố gắng theo đuổi vẻ đe dọa bên ngoài của động tác sẽ không bao giờ phát triển được trong môn võ này. Kỹ thuật các dòng Vịnh Xuân quyền trên thế giới cho thấy tính chất "đại đồng tiểu dị" với những điểm giống nhau là căn bản, bao gồm trong nó những nguyên lý xuyên suốt khi luyện tập các bài quyền; khái niệm "xả kỷ tòng nhân" (quên mình theo người), "thính kình" (nghe lực), "tâm ứng thủ” (khi đầu óc nghĩ đến một đòn đánh là chân tay thực hiện thành công); hệ thống đòn chân không có đá xoay người hay đá bay; hệ thống thủ pháp nhu nhuyễn nhưng nhanh và mạnh như roi quất; tấn pháp kiềm dương mã tự, xước mã (đạp bộ); công phu niêm thủ, niêm cước, trao đổi thân, niêm côn và đao; và các bài luyện tập trên mộc nhân trang.

Quyền pháp

Hệ thống quyền của môn phái theo truyền thống khá đơn giản với ba bài quyền ứng với trình độ môn sinh từ sơ cấp, trung cấp đến cao cấp gồm: Tiểu Niệm Đầu, Tầm kiều và Tiêu chỉ. Khác với chi phái tại Hồng Kông, tại Quảng Đông bài Tiêu chỉ được dạy trước bài Tầm kiều. Nhiều dòng phái Vịnh Xuân hiện nay có chương trình quyền pháp khá khác biệt, với những bài như Thập nhị thức, hệ thống Ngũ hình quyền, Vĩnh xuân quyền (bài quyền), Khí công quyền (còn gọi là Vịnh xuân khí công, Bối khí quy chi), Hạc hình thủ bộ, Tiểu mai hoa, Đại mai hoa v.v. và có thể không có hai bài Tầm kiều, Tiêu chỉ. Tuy nhiên, những bài tập rời với những nguyên lý, kỹ pháp của Tầm kiều, Tiêu chỉ vẫn được truyền dạy như cơ bản công và cơ bản kỹ thuật trong suốt những năm tháng môn sinh đến với Vịnh Xuân quyền. Theo Đại sư Nam Anh trên quan điểm của Vịnh Xuân quyền Việt Nam, ba bài tập thịnh hành trong hệ Vịnh Xuân quyền Hồng Kông hiện nay (ý nói Tiểu Niệm Đầu, Tầm Kiều và Tiêu chỉ) thực chất không thể coi là các bài quyền, mà là ba giai đoạn trong tiến trình luyện tập của môn sinh

Kiều thủ - Kỹ pháp đặc trưng
Hệ thống quyền pháp của Vịnh Xuân quyền xuất phát từ Nam Thiếu Lâm tại tỉnh Phúc Kiến mà kỹ pháp đặc trưng của nó là hệ thống Kiều thủ (phát âm theo âm Quảng Đông là Kìu Sẩu) là đoạn xương cánh tay trước từ cổ tay đến cùi chỏ dịch nghĩa sang tiếng Anh là the Bridge Hand Techniques hay the Bridge Arm Techniques.

Hầu hết các võ phái tại miền Nam Trung Hoa bắt đầu từ bờ phía Nam sông Trường giang (Dương Tử Giang) trở xuống, tức là bao gồm các tỉnh Phúc Kiến, Quảng Đông, Quảng Tây, Tứ Xuyên, Vân Nam, ... đều có nguồn gốc từ ngôi chùa Nam Thiếu Lâm tại tỉnh Phúc Kiến, do vậy các hệ thống kỹ thuật đòn tay đều dùng chữ Kiều và bộ tấn dùng chữ Mã bộ ám chỉ bộ chân di chuyển và gọi tắt là Kiều Mã (Kiều phải chắc chắn, Mã phải vững vàng) do vùng miền Nam Trung Hoa sông nước nhiều và thường đánh nhau trên ghe, thuyền nên phải trụ bộ một chỗ đánh.

Trong Thiếu Lâm Hồng gia thường có câu : Ổn Mã Ngạnh Kiều, Trường Kiều Đại Mã, Đoản Kiều Tiểu Mã , tạm dịch là Ngựa Vững Cầu Cứng, Ngựa Lớn Cầu Dài, Ngựa Nhỏ Cầu Ngắn, nghĩa là bộ tấn vững chãi đòn tay rắn chắc, đòn tay dài với bộ tấn rộng thấp, đòn tay ngắn với bộ tấn nhỏ hẹp và cao (Cao Mã).

Về chiến đấu pháp trong Thiếu Lâm Hồng gia lại có câu: Xuyên Kiều Tranh Mã Xích Thân Trửu, nghĩa là chủ về lối đánh trụ bộ (một chỗ) cận chiến và nhập nội nhiều hơn, Xuyên Kiều nghĩa là xuyên tay và len tay vượt trên tay đối phương, Tranh Mã nghĩa là phải dùng chân nêm chặt bộ vị (thế tấn) của đối phương, Xích Thân Trửu nghĩa là Thân và Cùi Chỏ (Trửu) phải luôn áp sát đối phương.

Trong Bạch Mi quyền lại có câu chiến đấu pháp: Hữu Kiều – Kiều thượng quá, Mậu Kiều – tự chế Kiều, nghĩa là có Kiều - (Hữu Kiều) - (gặp Kiều thủ đối phương bắc cầu) thì phải leo lên cầu mà vào nghĩa là gặp tay địch nhân thì phải dùng tay của mình chặn ở trên mà tiến vào mình đối phương (Kiều thượng quá), nếu không có Kiều rõ ràng (2 bên có khoảng cách chưa bên nào ra tay trước) - (Mậu Kiều) - thì phải đưa tay bắc cầu mà vào (tự chế Kiều).

Các bộ quyền của Nam Thiếu Lâm (hay Nam Quyền) thường dùng 2 thế tấn căn bản trong các bài quyền là Tứ Bình Bát Phân (Sei Ping Baat Fahn) còn gọi là Tứ Bình Mã (Sei Ping Ma ) tức là Trung Bình Tấn, và thế tấn thứ hai là Nhị Tự Kiềm Dương Mã (Yee Gee Kim Yeung Ma – Yih Jih Kìhm Yèuhng Máh gồm Đại Kiềm Dương Mã và Tiểu Kiềm Dương Mã.

Trong Nam Quyền (Hồng Gia quyền, Bạch Mi quyền, Vịnh Xuân quyền, Bạch Hạc quyền) thường dùng chữ Kiều Mã để nhấn mạnh tầm quan trọng của Kiều Thủ và Mã Bộ khi giao thủ với đối phương không cho đối phương Niêm Kiều, Triệt Kiều, Phá Mã.

3 bài đầu tiên (Tiểu Niệm Đầu, Tầm Kiều, Tiêu Chỉ) là những giai trình luyện tập các động tác Kiều thủ căn bản để tiến vào bài Mộc Nhân Trang thi triển hiệu quả các động tác Kiều thủ.

Hệ thống quyền pháp
Về căn bản, Vịnh Xuân có 4 bài quyền cốt lõi

3 bài quyền đầu tiên: Tiểu Niệm Đầu, Tầm Kiều, Tiêu Chỉ (Phiêu Chỉ) là những bước căn bản chuẩn bị cho bài Mộc Nhân Trang.

Bài Tiểu Niệm Đầu đưa ra các thế tay (Kiều thủ) căn bản và khái niệm Trung Tâm Tuyến cho nên cũng được coi là bài tập cho môn sinh phép phòng thủ căn bản.

Bài Tầm Kiều đưa ra các thế tay phản công và các đòn chân (Thoái pháp, Cước pháp) và cách thức di chuyển bộ vị khi giao chiến.

Bài Tiêu Chỉ là kỹ thuật nâng cao và chỉ được truyền dạy cho đệ tử trong môn để làm nền tảng cho bài Mộc Nhân Trang.

Ngoài 4 bài quyền, còn có phép luyện tay nghe lực còn gọi là phép thính kình hay phép du đẩy đối phương tựa như phép Thôi Thủ trong Thái Cực quyền, phương pháp này trong các chi lưu Vịnh Xuân Việt Nam thường gọi là Niêm Thủ nhưng hầu hết các chi lưu Vịnh Xuân trên thế giới và tại Trung Quốc, Hong Kong gọi là Li Thủ. Li Thủ gồm có Đơn Li Thủ và Song Li Thủ.

Tiểu niệm đầu (Siu Nim Tao)

Khác với các võ phái dựa trên cơ sở căn bản là phải luyện tập vững vàng mã bộ (tấn pháp) và ngoại lực trước khi bắt đầu được truyền dạy những bài quyền đầu tiên, ngay từ những ngày đầu nhập môn Vịnh Xuân quyền, môn đồ đã được truyền dạy Tiểu niệm đầu. Bài quyền này (còn có những tên gọi khác như Tiểu luyện đầu, Tiểu hình ý, Tam bái phật), là căn bản để môn sinh thành thạo những thủ pháp đặc trưng của Vịnh Xuân như than thủ, bàng thủ, cổn thủ, nhật tự xung quyền, khuyên thủ, tán thủ, phục thủ, phách thủ, đấm tam tinh còn gọi là tam xung chùy là thực hiện đấm liên tiếp 3 cái trong một nhịp tấn công v.v. trên một tấn pháp duy nhất từ đầu đến cuối bài là Kiềm dương mã tự, hay nhị tự kiềm dương mã áp dụng ở tư thế chính diện, chính thân, nên còn được gọi là chính thân nhị tự kiềm dương mã. Việc làm quen tấn pháp này với sự kết hợp thủ pháp (các chiêu thức của bài đều xuất phát từ trung tuyến), cho phép môn sinh rút ngắn được thời gian luyện tập bởi ngay từ những ngày đầu đến với môn phái đã được rèn luyện không chỉ mã bộ mà cả các chiêu thức nền tảng.

Lời thiệu (Ca Quyết ) bài Tiểu niệm đầu theo Diệp Chuẩn và Lương Đĩnh: Cần lưu ý rằng Lương Đĩnh(Lueng Ting)-quyền chưởng môn Lưu phái Vịnh xuân Hồng Công đã có 1 số cải biên về hệ thống quyền pháp của Vịnh Xuân, có thể thấy rõ trong Tiểu Niệm Đầu và Tầm Kiều.

Theo Diệp Chuẩn(tự nhận là Vịnh xuân gốc - Original Wing chun): thức 10, 11 cách diễn quyền không như trong Ca quyết dưới đây


1.

Mã khai bán bộ chi nhị tự kiềm dương mã
2.

Giao thoa than thủ - giao thoa bát thủ - cổn thủ thâu quyền
3.

Nhật tự xung quyền - khuyên thủ thâu quyền (tả - hữu)
4.

Than thủ - bán khuyên thủ - hộ thủ - phục thủ
5.

Trắc chưởng - chánh chưởng - than thủ - khuyên thủ thâu quyền
6.

Tả hữu án thủ - hậu án thủ - tiền án thủ
7.

Lan thủ - phất thủ - lan thủ - song chẩm thủ - tiêu chỉ thủ
8.

Trường kiều án thủ - song đề thủ - thâu quyền
9.

Trắc chưởng - hoành chưởng thâu quyền
10.

Than thủ - chẩm thủ - quát thủ
11.

Lao thủ - hạ lộ hoành chưởng - thâu quyền
12.

Bàng thủ - than thủ - ấn chưởng - thâu quyền
13.

Thoát thủ - liên hoàn xung quyền - thâu cước



Lời thiệu (Ca Quyết) bài Tiểu niệm đầu theo Lương Quan Mãn:

Khai thung mã
Song giao tiễn
Bài chỉ
Phật chưởng
Sát thủ
Lạp thủ
Xí chưởng
Than thủ
Bàng thủ
Thoát thủ

Tầm kiều (Chum Kiu )
Như tên gọi của bài, tầm kiều (tìm cầu) chỉ rõ mục đích bài là tìm cây cầu nối giữa công và thủ, hoặc, tiếp được tay đối phương để từ đó phát hiện sơ hở tấn công. Bài chú trọng luyện chuyển bộ theo bộ pháp xước mã đặc biệt của môn phái với thế tấn trắc thân kiềm dương. Lúc tiến theo thế "đạp bộ" hay còn gọi là "leo núi", chân trước bước kéo chân sau theo, trọng tâm thân thể luôn đặt tại chân sau. Lúc địch thủ tấn công, thế "chuyển mã" dời trung tâm tuyến và dẫn đòn đối thủ vào khoảng không. Đây là lý thuyết "dùng bộ pháp tìm tay (tầm kiều) đối thủ", "dùng eo xoay phá giải đòn công của địch". Bài có ba thế cước: đề thoái, trực đăng thoái và trắc sanh thoái, dùng chân trước để đá, chân vừa đá liền tiến một bước tới để nhập nội liên hoàn đả kích đối thủ. Những đòn tay mới được giới thiệu trong bài là chánh thân vấn thủ, phê tranh, xuyên kiều, trắc thân án thủ, trừu chàng quyền, đàn kiều xung quyền.

Lời thiệu (Ca Quyết ) bài Tầm kiều theo Diệp Chuẩn:

1.

Mã khai bán bộ chi nhị tự kiềm dương mã
2.

Giao thoa than thủ - giao thoa bát thủ - cổn thủ thâu quyền
3.

Nhật tự xung quyền - khuyên thủ thâu quyền
4.

Xuyên kiều - chuyển mã cập lan thủ (tả hữu phê tranh)
5.

Song phục thủ - phách thủ - chánh chưởng cập hộ thủ
6.

Chuyển thân lan thủ - giao thoa than thủ - cập chuyển thân bàng thủ
7.

Lan thủ xung quyền - phất thủ - phục thủ - thoát thủ - khuyên thủ thâu quyền
8.

Cầm lan - trắc thân lan thủ khởi đề thoái
9.

Hoành đạp bộ trắc thân bàng thủ - cập trắc thân giao thoa than thủ tam thức
10.

Trừu chàng quyền - phục thủ - thoát thủ - khuyên thủ thâu quyền
11.

Trực đăng thoái - đạp bộ đê bàng thủ - cập song than thủ - chánh thân song vấn thủ
12.

Song trất thủ - song ấn chưởng - thâu quyền
13.

Chuyển thân trắc sanh thoái - trắc thân án thủ - đàn kiều xung quyền (3 lần)
14.

Liên hoàn xung quyền - khuyên thủ thâu thức

Lời thiệu (Ca Quyết) bài Tầm kiều theo Lương Quang Mãn:

Khai thung mã
Song giao tiễn
Bài chỉ
Tầm kiều
Lan kiều thủ
Đơn bàng thủ
Song bàng thủ
Tam không thủ

Tiêu chỉ (Biu Tze )
Tiêu chỉ hay Phiêu chỉ (phóng ngón tay) cho thấy tinh thần của bài. Đây là cấp độ tột cùng để chiến đấu tự do, với các ngón tay duỗi thẳng xỉa dẫn đạo linh hoạt thay vì một nắm đấm có tính chất cương mãnh. Bài áp dụng nguyên lý "dĩ công vi thủ" (lấy công làm thủ) và "dĩ đả vi tiêu" (lấy đánh làm hóa giải), "dùng eo phát lực" và "lực quán chỉ". Những kĩ thuật mới là quải tranh, trắc thân vấn thủ, thượng hạ sạn thủ, khuyên cát thủ, thượng hạ canh thủ và bộ pháp khấu bộ. Riêng thế đánh chỏ, chi phái Hồng Kông chỉ có một đòn (chỏ đánh chéo từ trên xuống), sau Diệp Chuẩn thêm hai thế khác: phê trửu (chỏ đánh ngang) và cập chửu (chỏ đánh chéo từ dưới lên) bổ sung từ chi phái Quảng Đông, cho bài một sắc thái đặc biệt linh hoạt.

Lời thiệu (Ca Quyết ) bài Tiêu chỉ theo Diệp Chuẩn:


1.

Mã khai bán bộ chi nhị tự kiềm dương mã
2.

Giao thoa than thủ - giao thoa bát thủ - cổn thủ thâu quyền
3.

Nhật tự xung quyền (tiêu chỉ thủ) - khuyên cát thủ thâu quyền
4.

Chuyển thân quải tranh (tam thức) - tiêu chỉ thủ thâu quyền
5.

Khẩu bộ - chuyển thân quải tranh - tiêu chỉ thủ - thượng lộ sạn thủ
6.

Phất thủ - phục thủ - thoát thủ - khuyên thủ thâu quyền
7.

Chuyển thân quải tranh - tiêu chỉ thủ - hạ lộ sạn thủ
8.

Phất thủ - phục thủ - thoát thủ - khuyên thủ thâu quyền
9.

Chuyển thân thượng hạ canh thủ (tam thức) - phục thủ - thoát thủ - khuyên thủ thâu quyền (tả - hữu)
10.

Trắc thân vấn thủ (tam thức) - chẩm thủ - chuyển thân phục thủ - thoát thủ - khuyên thủ thâu quyền (tả - hữu)
11.

Tiêu chỉ thủ (tứ thức) - chuyển thân thượng lộ sạn thủ - phất thủ - phục thủ - thoát thủ - khuyên thủ thâu quyền (tả - hữu)
12.

Cầm nã thủ - trừu chàng quyền - ấn chưởng thâu quyền
13.

Tam cúc cung đại huýnh hoàn thủ (tam thức)
14.

Liên hoàn xung quyền - khuyên thủ thâu quyền



Lời thiệu (Ca Quyết) bài Tiêu chỉ theo Lương Quang Mãn:

Khai thung mã
Song giao tiễn
Bài chỉ
Cập trửu
Quải trửu
Phê trửu
Nhị đồng thủ
Dương thủ
Tháp chùy
Bái Phật

Mộc Nhân Trang Quyền Pháp (Muk Yan Chon Kuen Faat )
Ở Việt Nam, đa số các chi lưu Vịnh Xuân đều dịch tên bài quyền này là Mộc Nhân Thung Thật ra tên gọi đúng phải là Mộc Nhân Trang phát âm theo tiếng Quảng Đông là Mụk Yàn Chón, Trang có nghĩa là bày ra, sắp xếp ra mà ý nghĩa của Mộc Nhân là bày sắp ra các Chi (tay chân) trên dưới để tiện cho việc luyện tập, trong khi Thung có nghĩa là cọc gỗ hay trụ gỗ được chôn xuống đất.

vovinam_tieutu
13/08/2010, 18:57
Mộc Nhân Thung cũng có tác dụng như Mộc Nhân Trang dùng để luyện tập quyền cước (các món binh khí của tay chân mà võ thuật Trung Hoa gọi là các Thủ Hình), nhưng Mộc Nhân Thung thì không có các phần tay chân (Chi) lắp vào mà đó chỉ là các trụ gỗ chôn xuống đất có bó rơm trên 3 vùng Thượng (trên) - Trung (giữa) - Hạ (dưới) được dùng để luyện tay chân va chạm công phá mà các võ phái miền Nam Trung Hoa và các chi lưu Karate tại Okinawa và Nhật Bản xuất phát từ các võ phái miền Nam Trung Hoa rất ưa chuộng trong các bài tập hàng ngày.


Lời thiệu (Ca Quyết ) bài 116 Mộc Nhân Trang theo Diệp Vấn:


1.

Tư thế tái chiến (phản kích) (tả thủ)
2.

Phan cảnh thủ (hữu thủ)
3.

Hữu bàng thủ - tả hộ thủ
4.

Hữu than thủ - hạ lộ tả hoành chưởng
5.

Thượng hạ canh thủ
6.

Cổn thủ (thượng hạ canh thủ nghịch)
7.

Tả than thủ - hạ lộ hữu hoành chưởng
8.

Thượng hạ canh thủ
9.

Hữu khấu thủ - tả thác thủ
10.

Tả trất thủ - hữu ấn chưởng

11.

Tư thế tái chiến (phản kích) (hữu thủ)
12.

Hữu trất thủ - tả ấn chưởng

13.

Tả bàng thủ - hữu hộ thủ
14.

Tả than thủ - hạ lộ hữu hoành chưởng
15.

Thượng hạ canh thủ
16.

Cổn thủ (thượng hạ canh thủ nghịch)
17.

Hữu than thủ - hạ lộ tả hoành chưởng
18.

Thượng hạ canh thủ
19.

Tả khấu thủ - hữu thác thủ
20.

Hữu trất thủ - hạ lộ tả hoành chưởng
21.

Hữu nội thân phách thủ
22.

Tả nội thân phách thủ

23.

Hữu nội thân phách thủ

24.

Tả ngoại thân phách thủ
25.

Tả tiêu chỉ thủ
26.

Tả trất thủ - hạ lộ hữu nhật tự xung quyền

27.

Hữu ngoại thân phách thủ
28.

Hữu tiêu chỉ thủ
29.

Hữu trất thủ - hạ lộ tả nhật tự xung quyền

30.

Song thác thủ

31.

Hạ lộ hữu bàng thủ
32.

Hữu vấn thủ (trung lộ)
33.

Hữu trắc sanh thoái

34.

Hạ lộ tả bàng thủ
35.

Tả vấn thủ (trung lộ)
36.

Tả trắc sanh thoái

37.

Thượng hạ canh thủ
38.

Hữu khấu thủ - tả thác thủ
39.

Tả trất thủ - hữu ấn chưởng
40.

Song than thủ (gạt tay từ ngoài vào)
41.

Quyển thủ (câu liêm thủ)
42.

Hạ lộ song hoành chưởng
43.

Song than thủ
44.

Thượng lộ song hoành chưởng
45.

Song trất thủ

46.

Hữu khấu thủ - thượng tả canh thủ
47.

Tả khấu thủ - thượng hữu canh thủ

48.

Hữu khấu thủ - thượng tả canh thủ
49.

Tả trất thủ - hữu ấn chưởng

50.

Hữu bàng thủ
51.

Trắc thân hữu trực đăng thoái - hữu than thủ - trung lộ tả hoành chưởng

52.

Thượng hạ canh thủ

53.

Tả khấu thủ - thượng hữu canh thủ
54.

Hữu khấu thủ - thượng tả canh thủ

55.

Tả khấu thủ - thượng hữu canh thủ
56.

Chính thân hữu khấu thủ - hạ lộ tả hoành chưởng

57.

Tả bàng thủ
58.

Trắc thân tả trực đăng thoái - tả than thủ - trung lộ hữu hoành chưởng

59.

Thượng hạ canh thủ
60.

Hữu khấu thủ - tả thác thủ
61.

Tả trất thủ - hữu ấn chưởng
62.

Tiên hữu phục thủ - hậu hữu phất thủ

63.

Tiên hữu phục thủ - hậu hữu phất thủ
64.

Tiên hữu phục thủ - hậu hữu phất thủ

65.

Hữu khấu thủ - hạ lộ tả hoành chưởng
66.

Cổn thủ (thượng hạ canh thủ nghịch)

67.

Chính thân bão bài chưởng (thượng hữu thủ - hạ tả thủ)
68.

Tả bàng thủ
69.

(Tả cước tấn bộ) Trắc thân bão bài chưởng (hạ hữu thủ - thượng tả thủ)
70.

(Tả cước hồi bộ) Thượng hạ canh thủ (thượng hữu thủ - hạ tả thủ)

71.

Chính thân bão bài chưởng (thượng hữu thủ - hạ tả thủ)
72.

Hữu bàng thủ
73.

(Hữu cước tấn bộ) Trắc thân bão bài chưởng (thượng hữu thủ - hạ tả thủ)
74.

(Hữu cước hồi bộ) Thượng hạ canh thủ (hạ hữu thủ - thượng tả thủ)

75.

Tả khấu thủ - hữu phục thủ
76.

Hữu trất thủ - hạ lộ tả hoành chưởng

77.

Thượng hạ canh thủ (thượng hữu thủ - hạ tả thủ)
78.

Thượng hạ canh thủ (hạ hữu thủ - thượng tả thủ)

79.

Hữu bàng thủ
80.

Hữu cầm nã thủ - tả sát cảnh thủ
81.

Tả phách thủ - hữu sạn thủ



82.

Tả bàng thủ
83.

Tả cầm nã thủ - hữu sát cảnh thủ
84.

Hữu phách thủ - tả sạn thủ

85.

Hữu bàng thủ
86.

Tả trực đăng thoái - hữu than thủ - trung lộ tả hoành chưởng
87.

Tả bàng thủ
88.

Hữu trực đăng thoái - tả than thủ - trung lộ hữu hoành chưởng

89.

Thượng hạ canh thủ (thượng hữu thủ - hạ tả thủ)
90.

Hữu khấu thủ - tả thác thủ
91.

Tả trất thủ - hữu ấn chưởng

92.

Hạ lộ hữu bàng thủ
93.

Hạ lộ tả bàng thủ
94.

Hạ lộ hữu bàng thủ
95.

Hữu sạn thủ - chính thân tả trực đăng thoái
96.

Chính thân tả trắc sanh thoái - hữu hộ thủ - tả bàng thủ

97.

Hạ lộ tả bàng thủ
98.

Hạ lộ hữu bàng thủ
99.

Hạ lộ tả bàng thủ
100.

Tả sạn thủ - chính thân hữu trực đăng thoái
101.

Chính thân hữu trắc sanh thoái - tả hộ thủ - hữu bàng thủ

102.

Hạ lộ hữu khấm thủ
103.

(Hữu cước tấn bộ) Trắc thân tả phách thủ - hạ lộ hữu hoành chưởng

104.

Hạ lộ tả khấm thủ
105.

(Tả cước tấn bộ) Trắc thân hữu phách thủ - hạ lộ tả hoành chưởng

106.

Hạ lộ hữu khấm thủ
107.

Trắc thân tả phách thủ - hữu trực đăng thoái

108.

Hạ lộ tả khấm thủ
109.

Trắc thân hữu phách thủ - tả trực đăng thoái

110.

Thượng lộ hữu bàng thủ
111.

Trắc thân song cầm nã thủ - hữu tảo thoái

112.

Thượng lộ tả bàng thủ
113.

Trắc thân song cầm nã thủ - tả tảo thoái

114.

Thượng hạ canh thủ (thượng hữu thủ - hạ tả thủ)
115.

Hữu khấu thủ - tả thác thủ
116.

Tả trất thủ - hữu ấn chưởng
117.

Song thác thủ - thâu cước hồi thức

Nếu Mộc Nhân Thung là đặc điểm của võ thuật Trung Hoa tập luyện đánh tay trên các trụ gỗ (Thung) như các trường phái Karate tại Okinawa, thì Mộc Nhân Trang pháp (bài tập với những kỹ pháp đánh trên Mộc Nhân) lại là đặc điểm riêng của một số ít ỏi dòng phái trên lãnh thổ Trung Hoa. Huyền thoại về điều kiện phải chiến thắng 108 mộc nhân để chứng tích võ công trước khi được hạ sơn của các cao tăng Thiếu Lâm tự rất nổi tiếng, các nhà nghiên cứu vẫn không tìm thấy dấu tích của mộc nhân tại Tung Sơn, và mộc nhân trang pháp vẫn là đặc thù của các võ phái Thái Lý Phật, Hắc Hổ Môn ở Hồng Kông, và Vịnh Xuân quyền.

Mộc nhân có cấu tạo đơn giản, là một khúc gỗ đường kính khoảng 30cm-40cm, dài cỡ 1m60 tùy theo chiều cao mỗi người nếu đặt trên giá đỡ (loại sống, động), nếu chôn xuống đất hoặc đặt trên nền đất (loại chết, bất động) thì phần thân ở trên mặt đất của mộc nhân có độ dài tương đương cao độ của người luyện tập. Trên thân có bốn khúc gỗ nhỏ hơn: hai cánh tay trên nằm ngang vai người tập và đưa chéo sang hai bên, cánh tay dưới nằm trên trung tuyến và đưa thẳng ngang bụng. Mộc nhân có một chân bẻ cong, thiết kế nằm ở giữa và ngang đầu gối. Thông thường loại sống được sử dụng nhiều hơn do tính linh hoạt khi chịu lực. Thân của loại sống được treo lên bởi hai thanh ván xỏ xuyên qua trên và dưới hai bên hông của thân. Hai miếng ván đó chịu lực trên hai cây cột trụ chôn hoặc đặt vững trãi trên nền đất hai bên mộc nhân. Khi thân mộc nhân bị đánh, hai miếng ván nêu trên kéo thân trở lại phía trước sau khi thân dội về phía sau và vì vậy, tạo cho thân tính đàn hồi. Một số chi phái Vịnh Xuân, như Triệt Quyền Đạo, đã cải cách mộc nhân theo hướng không sử dụng hai miếng ván và cột trụ nhằm tạo tính động cho mộc nhân mà, thay vào đó, sử dụng lò xo dưới chân.

Bài Mộc Nhân Trang có thể coi là một bài quyền cao cấp của môn phái, chỉ dạy cho các học trò cao cấp. Theo từng dòng phái, các bài Mộc Nhân Thung cũng có ít nhiều sự khác biệt. Bài của các dòng Vịnh Xuân Quyền Việt Nam bao gồm 108 động tác, ngoài số ít các động tác chính thân tách bài thành 5 phần, bài bao gồm phần lớn các động tác lặp lại ở hai bên, có 6 thế cước và 8 thế đánh gối. Bài của chi phái Quảng Đông chia thành 2 phần với hơn 160 động tác, có 5 thế đá (Câu cước, Dịch đăng cước, Nguyệt ảnh cước, Hổ vĩ cước) và 1 thế đánh gối (Tất chàng phúc). Bài của chi phái Diệp Vấn tại Hồng Kông chia thành 10 đoạn với 140 động tác khi được truyền dạy ở Phật Sơn, nhưng khi tới Hồng Kông ông rút xuống còn 108 động tác sau khi bỏ đi một số chiêu thức quá sát thủ, vài năm sau ông lại nâng lên thành 116 động tác chia thành 8 đoạn. Bài có bao gồm tám thế cước (Trực đăng thoái, Hoành sanh thoái, Tà đà tất thoái, Thập tự thoái, Tiệt tảo thoái, Khấu đàn thoái, Tà đà cước thoái, Hoành đà tất thoái). Hiện nay bài Mộc Nhân Trang của Diệp Vấn, tuy hết sức phổ biến trong nhiều chi phái Vịnh Xuân trên toàn thế giới, đã hầu như thất truyền những tuyệt chiêu mà tổ sư đã không truyền dạy.

Nếu mộc nhân là dụng cụ hỗ trợ để môn sinh tập lực, phát kình, tháo lỏng, du đẩy và phá du đẩy thì bài Mộc Nhân Thung giúp môn sinh thực hiện toàn diện chiến lược công thủ phản biến. Trừ một số ít đòn thế áp dụng khi đứng tấn chính thân kiềm dương, hầu hết các chiêu thức của bài được triển khai khi môn sinh chiếm giữ trung tuyến, dùng "tam giác bộ" (bộ pháp tam giác với đỉnh là vị trí của người tập lúc khởi chiêu) di chuyển từ nội môn (phần thân nằm trong hai cánh tay trên) qua ngoại môn (phần ngoài hai cánh tay), tưởng tượng tránh đòn của đối thủ, sau đó tấn công vào bên hông mộc nhân.

Hệ thống ngũ hình quyền (Vịnh Xuân Việt Nam)
Hệ thống ngũ hình quyền với 5 con linh thú (Long, Hổ, Báo, Xà, Hạc) nằm trong chương trình luyện tập của một số dòng phái Vịnh Xuân quyền tại Hà Nội, Việt Nam như Vĩnh Xuân Nội gia quyền, Vĩnh Xuân Ngô gia Hoàng pháp và hiện cũng đã được tập luyện tại Thành phố Hồ Chí Minh. Không ai biết chính xác hệ thống này bắt đầu từ khi nào, nhưng chắc chắn nó có nguồn gốc từ Thiếu Lâm Tự. Rất có thể phát xuất từ Bạch Ngọc Phong đời nhà Nguyên Trung Hoa, khi ông nương theo bài La Hán Thập Bát Thủ gồm 18 thế tay của vị phật A La Hán của Thiếu Lâm để chế ra Ngũ Hình quyền gồm các bài quyền dựa theo những con thú nói trên và một bài tổng hợp của 5 con thú.

Sau này, trải qua một tiến trình lịch sử dằng dặc, hệ thống ngũ hình đã được trau truốt, tinh lọc, sửa đổi rất nhiều. Đáng chú ý là sự bổ sung của hệ thống này vào kỹ pháp các dòng phái Vịnh Xuân quyền Việt Nam. Khi nghiên cứu 6 bài quyền (Ngũ hình quyền tổng hợp, Long hình quyền, Hổ hình quyền, Báo hình quyền, Xà hình quyền, Hạc hình quyền), mặc dù đã ít nhiều có sự hòa hợp của hệ thống này so với các công phu Vịnh Xuân quyền truyền thống, người tập vẫn dễ dàng nhận ra một số khác biệt: tính đơn thế và tính chất trường quyền. Lý giải về sự có mặt của ngũ hình quyền pháp trong Vịnh Xuân quyền Việt Nam không ngoài câu trả lời: sư tổ Tế Công là người am hiểu nhiều dòng phái võ thuật Trung Hoa, khi giảng dạy cho các môn sinh tại Việt Nam, dù vẫn nhấn mạnh công phu Vịnh Xuân, ông cũng có sự kết hợp với các dòng phái khác cho phù hợp với thể chất và năng khiếu của mỗi môn đồ. Lý giải điều đó cũng giúp ta nhận ra tại sao các dòng Vịnh Xuân tại Thành phố Hồ Chí Minh có một hệ thống bài quyền khác biệt với miền Bắc, và nhiều võ sư Vịnh Xuân quyền Việt Nam đã phát triển môn phái theo các hướng khác nhau, dù cùng xuất xứ từ tổ sư.

Theo lưu phái Vịnh Xuân quyền tại Phật Sơn, Quảng Đông và Vịnh Xuân quyền từ Diệp Vấn ở Hong Kong thì Vịnh Xuân quyền chỉ có 4 bài quyền gồm: Tiểu Niệm Đầu, Tầm Kiều, Tiêu Chỉ, và Mộc Nhân Trang có 116 chiêu thức trong đó 1/2 bài là lập lại thành ra chỉ có 58 chiêu thức trên thực tế, khác với bài Mộc Nhân Trang của Vịnh Xuân quyền Hà Nội có 108 chiêu thức.

Tương truyền rằng Nguyễn Tế Công đã du nhập hệ thống Ngũ Hình quyền từ Thiếu Lâm vào Vịnh Xuân vì Nguyễn Tế Công đã từng học qua Thiếu Lâm quyền truyền thống, nhưng trong hệ thống Ngũ Hình quyền này từ Nguyễn Tế Công cho thấy không giống Ngũ Hình quyền của Thiếu Lâm. Ngũ Hình quyền là một hệ thống quyền pháp nổi tiếng tại chùa Thiếu Lâm (Tung Sơn, Hà Nam) và tại chùa Nam Thiếu Lâm (Phúc Kiến).

vovinam_tieutu
13/08/2010, 18:58
Hệ thống Ngũ Hình quyền tại chùa Nam Thiếu Lâm ở Phúc Kiến còn tồn tại sót lại trong hệ thống quyền pháp của Thiếu Lâm Hồng gia và Bạch Mi quyền rất rõ nét của Thiếu Lâm quyền còn vương lại nhưng cũng không giống hoàn toàn với Ngũ Hình quyền của Thiếu Lâm (Tung Sơn, Hà Nam).

Hệ thống ngũ hình quyền của các dòng phái Vịnh Xuân Quyền Việt Nam bao gồm 6 bài:

Ngũ hình quyền tổng hợp: bài được chia thành 5 phần tách biệt ứng với 5 con thú thiêng, bắt đầu từ các chiêu thức tay xà, tiến tới tay long, hổ, báo và kết thúc là tay hạc. Các thế tấn và bộ pháp trong bài hỗ trợ cho thủ pháp. Đây là bài quyền đặc biệt phong phú về chiêu thức, động tác. Phong thái kết hợp cả nhu nhuyễn, chậm rãi đến tốc lực, dương cương.
Long hình quyền: Long quyền thuộc thổ, lấy tỳ làm chủ, luyện thần. đặc trưng bởi những thế chộp, vồ (cầm nã thủ), sử dụng bàn tay với các ngón tay xòe mở rộng trong những chiêu thức nhấn mạnh nguyên lý vòng tròn, các chiêu thức thường được diễn thế lặp lại 3 lần.
Hổ hình quyền: Hổ quyền thuộc kim, chủ phế, dùng để luyện cơ bắp. Bài không có đòn chân (cước pháp). Chủ luyện đòn đấm thẳng dẫn đạo (tay hổ), đòn đánh bằng lưng bàn tay kết hợp với bật chỏ ngang. Các đòn thế thường đi theo đường thẳng, với tốc độ cao và uy lực cương mãnh không thích hợp cho nữ giới.
Báo hình quyền: Báo quyền hành mộc, chủ can, luyện gân. Bài sử dụng tấn pháp linh hoạt, nhanh nhẹn phối hợp với những đòn tấn công chớp nhoáng bằng các khớp xương giữa của đốt ngón tay gọi là Báo Chùy (tay báo) dùng để chặn đòn đối phương hay đánh bật vào huyệt thái dương, thường sử dụng hai tay tấn công đồng thời kết hợp với cước pháp.
Xà hình quyền: Xà quyền thuộc hành thủy, chủ thận, luyện khí (tiên thiên). Rắn không chân nên bài Xà quyền không có đòn cước. Bài chủ luyện sự nhu nhuyễn, linh hoạt của những ngón tay (tay xà) uốn éo với nguyên tắc dùng eo xoay để phát lực, thường áp dụng những thế tấn rất thấp và có những thế đánh dạng hồi mã thương rất độc thủ. Bài còn được luyện quỳ ngồi nằm trên mặt đất để trở thành bài Xà địa quyền.
Hạc hình quyền: Hạc quyền thuộc hành hỏa, chủ tâm, dùng để luyện tinh. Bài sử dụng những đòn đánh bằng cạnh tay (tay hạc) và cổ tay gọi là Hạc Đỉnh thủ và Hạc Câu thủ hoặc mỏ hạc gọi là Hạc Trủy thủ trong những tư thế dang mở rộng cánh với những đòn đánh chỏ kết hợp với tấn chéo, tấn một chân (hạc tấn). Nhiều môn đồ Vịnh Xuân quyền đánh giá đây là bài quyền có phong cách hào sảng và đẹp nhất trong các bài ngũ hình quyền.

Khí công quyền (Vịnh Xuân Việt Nam)
Bài Khí công quyền, một số dòng Vĩnh Xuân gọi là Bối khí quy chi sử dụng các nguyên lý và chiêu thức như Ngũ cầm hí của danh y Hoa Đà, chủ luyện khí và lực, rất thích hợp cho dưỡng sinh. Thủ pháp của bài được luyện trên bộ pháp kiềm dương tấn. Bài phân chia rõ rệt thành nhiều phần bằng việc chuyển vị từ chính thân kiềm dương sang trắc thân kiềm dương bên phải và bên trái.

Cước pháp
Hệ thống đòn tay Vĩnh Xuân được đánh giá là vô cùng linh hoạt và hữu hiệu, nhưng nhiều người không biết rằng môn phái còn có những đòn chân rất độc đáo. Có ý kiến cho rằng cước pháp của Vịnh Xuân quyền chỉ có 16 đòn (chính xác là 8 đòn cho mỗi bên chân), có lẽ dựa trên hệ thống luyện tập(thấy rõ trong bài tập Mộc nhân) của dòng Vịnh Xuân Diệp Vấn tại Hồng Kông . Thực tế cước pháp Vịnh Xuân phong phú hơn nhiều, bao gồm cả những chiêu thức dùng chân ở tầm cực thấp với những đòn chấn khớp có uy lực khủng khiếp và những chiêu thức đánh vào sự thăng bằng của đối thủ. Tuy nhiên, do nguyên tắc "túc bất ly địa" (chân như mọc rễ vào đất) của Vịnh Xuân, cước pháp Vịnh Xuân chỉ truyền dạy cho học trò cao cấp sau khi môn sinh đã luyện tập tốt sự thăng bằng và có sự phối hợp với thủ pháp nhuần nhuyễn. Vịnh Xuân quyền truyền thống không đề cao những đòn đá xoay người, đá bay và cũng rất hiếm hoi những đòn đá quá tầm trung đẳng[5]. Công phu cước là: Chi gerk niêm cước, một hình thức tập luyện dính chân tương tự niêm thủ. Vịnh xuân Hồng Kông thường dùng nhiều Triệt cước(Jeet gerk)trong thực chiến cũng như luyện Niêm cước, ngoài ra có thể kể thêm: Bong gerk(Bàng cước), Tan gerk(Than cước), Jut gerk(Trất cước), Jaam gerk(Trảm cước), Ding gerk(Đỉnh cước),Wang gerk(Hoành cước),Hay sut(Thúc gối)...Sao gerk(Tảo cước)ít dùng để quét thấp như các võ phái cổ truyền Việt Nam. Trong Niêm thủ khi 'biến chiêu' tấn công, Lương Đĩnh có chỉ dạy 1 thế cước cao chân của Vịnh Xuân Hồng Công là đá thốc gót thẳng lên cổ đối phương, nó như Ding gerk nhưng dùng đá cao.

Binh khí

Lục điểm bán côn
Bài Lục điểm bán côn sử dụng cây côn (gậy) rất dài, thường bằng cao độ của người luyện tập cộng thêm phần cánh tay giơ cao (khoảng 2 thước rưỡi), có lẽ xuất xứ ban đầu cây sào chống thuyền của các môn đồ Hồng\

Bát trảm đao
Tùy chi phái, cây đao sử dụng trong bài còn được gọi là Song tô, Trủy thủ hay Dao quai, và bài còn có tên gọi là Hồ điệp đao, Hồ điệp song đao hay Nhị tự song đao. Bài sử dụng loại đao ngắn cỡ trung bình, khoảng bằng độ dài cẳng tay người tập cộng với một bàn tay xòe thẳng (chuôi đao có thể nằm gọn trong lòng bàn tay, và lưỡi đao chập theo cẳng tay trong một số động tác của bài. Chuôi đao có một vòng thép tạo thành quai, ngoài chức năng bảo vệ tay cầm đao còn giúp loan đao linh hoạt.

Bài Bát trảm đao chia làm 8 đoạn (bát trảm) với mỗi đoạn là một thế đao chính. Theo Diệp Vấn, tám đoạn của bài là:

Đao thức
Lập trảm đao
Than trảm đao
Song canh đao
Cổn bàng đao
Nhất tự đao
Vấn đao
Quải đao
Tương tự côn pháp, đao pháp áp dụng nguyên tắc kiềm chế hay đánh rơi binh khí đối phương để nhập nội an toàn kết thúc trận đấu. Tương truyền, Diệp Vấn chỉ dạy bài Bát trảm đao cho bốn đệ tử. Tuy nhiên hiện nay nhiều bài đao khác nhau mang tên Bát trảm đao nên khó phân biết được bài nào được chân truyền từ Diệp Vấn.

Các binh khí khác
Các binh khí khác ít phổ biến hơn và chỉ đuợc tập luyện hạn chế tại một số dòng phái gồm phi tiêu, trường kiếm, liễu diệp kiếm, tề mi côn, thậm chí có cả đao.

Hệ thống công phu

Niêm thủ (Li thủ)
Phương pháp niêm thủ (tay dính nhau) phát triển phản xạ đôi tay, môn sinh nhập nội vừa tiếp tay đối phương là tìm được sơ hở, tức thì tấn công. Chủ đích là đạt tới trình độ hai tay đánh đỡ không cần suy nghĩ (tâm ứng thủ). Niêm thủ bao gồm trong đó cả các động tác quay tay, các nguyên lý du đẩy và phá du đẩy cùng những thế đặc trưng của Vịnh Xuân như than thủ, bàng thủ v.v. và được tập luyện cùng đồng môn trong suốt tiến trình võ sinh theo học.

Đơn niêm thủ (Đơn Li thủ)
Đơn niêm thủ (tập niêm thủ một tay) được dạy kết hợp cùng bài Tiểu niệm đầu và hầu hết lấy các chiêu thức trong bài ra để song đối. Đơn niêm thủ kết hợp theo một chu kì những thế than thủ, phục thủ, chánh chưởng, chẩm thủ, nhật tự xung quyền, bàng thủ, và chú trọng sự chuyển biến giữa hai thế than thủ và bàng thủ.

Song niêm thủ (Song Li thủ)
Song niêm thủ (dính hai tay) bắt đầu với bàng thủ và tiếp với phương pháp "nhất phục nhị" để cuối cùng tới niêm thủ tự do, áp dụng nguyên lý "bất truy thủ", "tá lực xảo đả", "tiêu đả đồng thời", "tá lực phản đàn, khiêu kiều độ giang", "án đầu ngật vĩ", "lại lưu khứ tống", "súy thủ trực xung" v.v. Ở các chi phái Vịnh Xuân quyền Việt Nam, song niêm thủ bắt đầu bằng những động tác quay tay và được tập ngay từ ngày đầu tiên đến với môn phái.

Song niêm thủ bịt mắt (Phong Nhãn Song Li thủ)
Là cấp độ cao nhất của linh giác để tiến tới song đấu tự do với ly thủ (rời tay), võ sinh bịt mắt bằng dải băng đen và chỉ còn đặt niềm tin vào khả năng cảm nhận thông qua tiếp xúc với đối phương của bản thân để tránh đòn hay phản công.


Niêm cước (Li cước)
Niêm cước được luyện tập nhằm phát triển khả năng cảm ứng, nghe lực và sự thăng bằng của của chân. Hai người đứng trên một chân dùng chân kia chạm nhau, tạo sơ hở bằng những đòn móc chân (khấu thoái) rồi tấn công bằng những thế đá của môn phái.

Niêm thân (Li thân)
Niêm thân (dính thân), trong các chi phái Vịnh Xuân quyền tại Việt Nam còn gọi là Trao thân hay Tráo đổi thân, là cấp độ cao nhất của sự tiếp xúc giữa hai đối thủ nhằm hướng đến mục tiêu phát triển sự cảm ứng nhanh nhạy của toàn bộ cơ thể trước tác động lực từ phía đối phương. Đòn đánh của địch thủ vừa tiếp xúc với thân mình của môn đồ Vịnh Xuân quyền, dựa trên cơ sở thụ cảm tác động lực, môn đồ Vịnh Xuân lập tức hóa giải bằng các động tác xoay thân, triệt tiêu lực, đưa cơ thể vượt thoát ra khỏi không gian nguy hiểm do đòn tấn công của đối phương gây ra và tạo góc độ ra đòn thuận lợi để phản công.

Du đẩy (Phép Thính Kình)
Du đẩy hay còn gọi là phép Thính Kình tức là các phương pháp tập giao thủ (chạm tay), tiếp thủ (đón tay) của đối phương và nghe (cảm nhận) phương hướng chuyển động của lực tay đối phương mà tùy theo đó để triệt kình (phá lực) của đối phương theo nguyên lý lực ly tâm nghĩa là dùng vòng tròn hóa giải lực chuyển động đường thẳng, đây là phương pháp rất thịnh hành trong các môn võ thuật Trung Hoa bắt đầu thời nhà Minh có một loại quyền pháp xuất hiện gọi là Miên Quyền - được người Trung Hoa dịch nghĩa sang tiếng Anh là Cotton Fist (quyền mềm như bông), còn gọi là Nhu Quyền.

Nghiên cứu lịch sử quyền pháp Trung Hoa, ta cũng nhận thấy Thái Cực Quyền Trần Gia do Trần Vương Đình xuất phát tại làng Trần Gia Câu trong tỉnh Hà Nam cũng ra đời vào giữa cuối triều nhà Minh nghĩa là sau khi Nhu Quyền Trung Quốc ra đời. Trong Thái Cực Quyền có phép Thôi Thủ dùng phương pháp Thính Kình (nghe lực đối phương) cũng tựa hệt như phép Du đẩy trong Vịnh Xuân quyền, do vậy trong Thái Cực quyền phổ của Vương Tông Nhạc có câu: "Tứ lượng bát thiên cân, dẫn tiến lạc không hợp tức xuất" nghĩa là dùng 4 lạng (lấy yếu - dĩ nhu) mà chống đỡ ngàn cân (trị mạnh bạo - chế cương) tương tự như Cầm Nã Thuật của Thiếu Lâm quyền, làm cho đối phương mất thăng bằng và mất phương hướng (dẫn tiến lạc không) rồi sau đó xuất thủ (ra tay) mãnh liệt (hợp tức xuất).

Đây là các bài tập thiên về dùng sức nhằm phát triển nội lực và cảm ứng lực, người tập đứng chính thân kiềm dương hoặc trắc thân kiềm dương lồng tay vào nhau và tiến hành tác động đến đối phương bằng các động tác ép, chặn nghịch chiều. Những bài tập du đẩy thể hiện tính chất đối kháng lực rất nặng với phương pháp hầu như tương phản với những nguyên tắc niêm thủ nói trên thường thiên về nhu hòa, hóa giải lực.

Du đẩy và phá du đẩy có thể còn được thực hiện với những động tác ép, điểm, chặn, đả lên thân (vùng ngực, bụng, vai, lưng v.v.) đối phương nhằm tăng cường khả năng cảm ứng lực và chịu lực của từng phần cơ thể.

Một số dòng phái

Hiện nay Vịnh Xuân là một trong số những môn võ phát triển quy mô bậc nhất thế giới, trải rộng trên 140 quốc gia với rất nhiều hệ phái, trong đó có 3 hệ phái chủ đạo do Hiệp hội Vịnh Xuân quyền Thế giới phân loại là Hệ phái Vịnh Xuân quyền Hồng Kông của Đại sư Diệp Vấn (Yip Man); Hệ phái Vịnh Xuân quyền của Đại sư Nguyễn Kỳ Sơn (Yuen Kay San) và Hệ phái Vịnh Xuân Việt Nam được truyền bá tại Hà Nội. Từ năm 1939 đến 1954,ở Hàng Buồm, Hà Nội, thu nhận học trò và truyền dạy Vịnh Xuân khởi phát từ Nguyễn Tế Công. Tuy nhiên, trong Vịnh Xuân quyền toàn tập, Robert Chu, Réne Ritchie, Y. Wu đã hệ thống Vịnh Xuân quyền thế giới thành các chi phái sau:

Lưu ý, trong tên Hán tự của các hệ phái, một số hệ phái ghi rõ ràng Vĩnh Xuân quyền, thay vì Vịnh Xuân quyền.

Các chi phái chính
Diệp Vấn Vịnh Xuân quyền (Yip Man Wing Chun kwen), phát triển mạnh tại Hồng Kông và nhiều nước phương Tây.
Nguyễn Kỳ Sơn Vịnh Xuân quyền (Yuen Kay San Wing Chun kwen)
Cổ Lao Vịnh Xuân quyền (Gu Lao Wing Chun kwen): phát xuất từ ngôi làng cùng tên.
Nam Dương Vịnh Xuân quyền (Nanyang Wing Chun kwen)
Bành Nam Vĩnh Xuân quyền (Pannam Wing Chun kwen)
Bào Hoa Liên Vĩnh Xuân quyền (Pao Fa Lien Wing Chun kwen)
Hồng thuyền Vĩnh Xuân quyền (Hung Suen Wing Chun kwen)
Chí Thiện Vĩnh Xuân quyền (Jee Shim Wing Chun kwen)

Các chi phái khác
Phật Sơn Vịnh Xuân Quyền (Fujian Wing Chun kwen)
Hồng thuyền hí ban Vĩnh Xuân Quyền (Hung Sue Hay Ban Wing Chun kwen)
Vịnh Xuân quyền Malaysia (Malaysian Wing Chun kwen): dòng phái phát triển tại Malaysia do công của Diệp Kiên (Yip Kin) từ năm 1930
Thiên thân Vịnh Xuân quyền (Pien San Wing Chun kwen) có gốc khởi từ lương y Lương Tán tại làng Cổ Lao
Vĩnh Xuân quyền Việt Nam (Vietnamese Wing Chun) do Tề Công truyền vào từ những năm trước 1945, xin xem thêm Vĩnh Xuân Quyền (Việt Nam)
Diêu Kỳ Vịnh Xuân quyền (Yiu Kai Wing Chun kwen)

Các chi phái Vịnh Xuân tổng hợp
Một số dòng phái như Vịnh Xuân Thái cực quyền là sự kết hợp kỹ pháp của Vịnh Xuân quyền truyền thống với Thái cực quyền, hoặc Vịnh Xuân Triệt quyền đạo do Lý Tiểu Long khai sáng qua sự tổng hòa kungfu với những môn võ hiện đại như Taekwondo, Karatedo, quyền Anh

Một số nhân vật sáng tổ của môn phái
Ngũ Mai lão ni, (còn gọi là Ngũ Mai sư thái), tương truyền là người đã sáng tạo những công phu tiền khởi của Vịnh Xuân quyền khi quan sát xà hạc tương tranh.
Chí Thiện thiền sư, tương truyền là người đã truyền công phu Lục điểm bán côn vào Vịnh Xuân quyền, cũng là nhân vật sáng tổ phái Chí Thiện Vĩnh Xuân quyền.
Nghiêm Vịnh Xuân, đệ tử của Ngũ Mai, đã hệ thống hóa kiến thức do sư phụ truyền dạy, sau truyền cho chồng là Lương Bác Trù.
Miêu Thúy Hoa, con gái của Miêu Hiển và là mẹ của Phương Thế Ngọc, tương truyền đã truyền vào Vịnh Xuân quyền công phu Bát trảm đao.
Đại Hoa Diện Cẩm
Lương Bác Trù, cao đồ Thiếu Lâm tự, chồng của Nghiêm Vịnh Xuân
Lương Lan Quế
Hoàng Hoa Bảo, Lương Nhị Tỳ và Hồng thuyền hội quán
Lương Nhị Để
Lương Tán, hành nghề y, nổi tiếng Vịnh Xuân quyền tại Cổ Lao
Lương Bích
Trần Hoa Thuận
Trương Ngũ, còn gọi là Than thủ ngũ, biệt danh "kẻ nghiền xương" vì những đòn đấm tam tinh 1 inch bẻ gãy xương nhiều đối thủ.
Diệp Vấn, chưởng môn chi phái Vịnh Xuân quyền Hồng Kông, tôn sư của Lý Tiểu Long
Nguyễn Tế Công hay Nguyễn Tề Công, sư huynh của Diệp Vấn tại Hồng Kông, là tổ sư của Vịnh Xuân quyền Việt Nam.
Nguyễn Kỳ Sơn

bjmvsb0p
13/08/2010, 21:32
wikipedia výt như thế là k đầy đủ.
taekwondo bj h mà cả thế giới být đến là taekwondo WTF, chủ yếu dùng chân(có đâk đấm vào giáp nhưng rất ít dùng), võ phục là áo cổ chui. hiện ney hầu như mọi ng chỷ být đến taekwondo WTF chứ ít ng být đến tkd ITF
còn taekwondo ITF thỳ na ná giống karate, từ trang phục đến dụng cụ thy đấu, nó khác karate ở kĩ thuật đá. tkd ITF khj thy đấu dùng cả đòn đấm chứ k chỷ đơn thuần là đá như WTF

Elnino_Classic
14/08/2010, 02:42
Có ai biết võ phái ':Võ Lâm Phật Gia" không :)
e theo học đó:)

v8_kun_kun_t4
14/08/2010, 07:56
anh ơi! hay là anh post luôn bài GT về vovinam cho mọi ng`...............võ dân tộc mà....................em thấy môn này cứ bay bay với quặp cổ cứ như xem WWE ý ;))

vovinam_tieutu
14/08/2010, 09:36
Có ai biết võ phái ':Võ Lâm Phật Gia" không
e theo học đó

mình có nghe qua về môn này, nếu như ko nhầm thì dc mọi người gọi là môn phái nhường 3 đòng đúng ko nhỉ ;;);;);;);;) tuy vậy mình cũng ko biết rõ ràng về môn này, bạn nào biết có thể post bài để mọi người cùng tham khảo dc chứ :):):):):)


anh ơi! hay là anh post luôn bài GT về vovinam cho mọi ng`...............võ dân tộc mà....................em thấy môn này cứ bay bay với quặp cổ cứ như xem WWE ý

còn về giới thiệu vovinam thì anh đã post rất nhiều ở topic riêng của clb trường rồi mà em :(:(:(:( em có thể tham khảo tai đây nhé :):):)http://www.vietduc.org/showthread.php?t=14356

mà mình rất hi vọng mọi người post thêm nhiều bài viết về các môn phái khác nữa nhé, để mọi người cùng tham khảo và có thể từ đó ai có nhu cầu tham gia luyện tập có thể tìm dc môn phái phù hợp với mình. cảm ơn các bạn rất nhiều nhé :D:D:D:D:D

crystal_life
14/08/2010, 09:43
Cảm ơn vovinam_tieutu nhiều về bài giới thiệu Vĩnh Xuân nhé!
^_^

vovinam_tieutu
14/08/2010, 12:11
Krav Maga là một môn võ mới được biết đến nhiều hơn trong vài thập niên qua, được phối hợp và phát triển do người Do Thái. Võ phái này chỉ mới được biết đến khi được dùng để huấn luyện quân đội an ninh Do Thái, quân đội và cảnh sát của một số quốc gia trên thế giới. Từ tiếng Do Thái, “maga” nghĩa là “cận, gần” và “krav” là tác chiến; vậy Krav Maga là võ thuật cận chiến, diễn dịch từ chữ gốc.



Võ thuật của võ phái này tuy dạy cho môn sinh khả năng tự vệ nhưng từ buổi đầu nó là một hệ thống huấn luyện chiến đấu, chủ yếu nhắm đến các thành phần quân đội. Đòn thế của Krav Maga chủ trương “no-quarter”, có nghĩa là không cầm giữ tù binh nhưng chỉ nhắm đến việc vô hiệu hóa các hiễm họa và đe dọa trong các tình huống khó khăn và căng thẳng nhất. Võ phái này chưa có những qui định rõ ràng và không hề được xem là một môn thể thao. Chủ trương của Krav Maga là phát huy tối đa khả năng của môn sinh để đáp ứng hữu hiệu trong hoàn cảnh khó xử. Võ sinh Krav Maga không chủ trương bắt giữ và kiềm chế đối phương, nhưng cố tình gây đau đớn và thương tích tối đa trong chớp nhoáng để vô hiệu hóa đối phương. Những thế tấn công thường nhắm đến những yếu điểm trên cơ thể như bộ hạ, mắt, tai, v.v..



Thế tấn công có cả móc mắt, húc đầu và tìm mọi cách khác để bảo đảm an toàn cho chính mình và gây thương tích tối đa cho đối phương. Ngoài ra đòn thế của Krav Maga có gồm những thế tự vệ cận chiến như khóa gở, vặn xoắn khớp, vật và tung đối phương, v.v. Kỹ thuật đòn tay và đòn chân cũng gồm các lối đấm, bật, chỏ, lên gối, và các lối đá như nhiều môn phái khác. Mặc dù những đòn thế của Krav Maga xem qua hao hao như đòn thế của các phái võ thuật khác như Quyền Anh, Không Thủ Đạo và Võ Thái (Muay Thái) dùng các thế đấm, đá, chỏ và gối như Jujutsu, Nhu Đạo, và Đô Vật, các huấn luyện của họ thì khác. Họ không có bài quyền nhưng có rất nhiều thế song luyện đánh cặp theo lối liên hoàn gọi là “retzev”.



Những điều căn bản khi dùng võ Krav Maga là:



• Vô hiệu hóa hiễm họa nhanh chóng



• Tránh thương tích



• Chuyển từ tự vệ qua tấn công càng sớm càng tốt



• Tận dụng tất cả phản xạ tự nhiên



• Đánh vào những huyệt điểm



• Tận dụng bất cứ dụng cụ hoặc đồ vật sẳn có làm vũ khí



Võ sinh Krav Maga phải nhập tâm các điều sau đây khi gặp phải tình thế cần giải quyết:



• Không cần biết đến mức độ đau đớn và tác hại do mình gây ra



• Tạo ra càng nhiều tai hại cho đối phương càng sớm càng tốt rồi đào thoát



• Không kéo dài trận đấu



Điều căn bản khi phải đối đấu với hiễm họa (như bị bóp cổ), tránh không để đối phương còn có khả năng tấn công thêm nữa và nhanh chóng vô hiệu hoá đối phương và giành thế chủ động cấp thời.



Hiện nay ở một số quốc gia, một số kỹ thuật được đưa vào dạy cho thường dân trong các lớp tự vệ. Các đòn thế nguy hiểm và có thể gây trọng thương hay tử vong, thường không được truyền dạy để tránh những liên lụy luật pháp nếu sử dụng ngoài khả năng quyền hạn.



Môn sinh thường không phải bận võ phục theo một tiêu chuẩn nhất định và họ cũng không có những giải thi đấu như các môn phái khác. Trong lớp tập, huấn luyện viên thường nhấn mạnh hai điểm: (1) không có luật lệ trong khi giao đấu, (2) không được gây thương tích cho bản thân và bạn đánh cặp. Nhưng họ lại khuyến khích *****ng chạm và xô xát thường xuyên trong khi tập để môn sinh làm quen dần với những hoàn cảnh căng thẳng và bạo động.



Thực ra Krav Maga được phát xuất từ Hung Gia Lợi (Hungary) và Cộng Hòa Czech (Czechoslovakia) vào thập niên 1930 do ông Imi Lichtenfeld. Ông ta đầu tiên đào tạo một toán nhân dân tự vệ để bảo vệ cho một thiểu số dân Do Thái sống trên lãnh thổ của hai xứ này, từ quân đội Đức Quốc Xã. Khi đặt chân đến Palestine, thuộc lãnh địa bảo hộ của Anh Quốc trước khi quốc gia Do Thái được thành hình, ông Imi đã huấn luyện đòn thế cận chiến cho dân quân Do Thái. Nước Do Thái lập quốc vào năm 1948, ông Imi trở thành tổng trưởng bộ thể dục thể thao và là người đứng đầu môn Krav Maga của trường sĩ quan quân đội Do Thái. Ông ta tiếp tục giữ chức vụ này suốt 20 năm và đã bổ sung và cập nhật đòn thế kỹ thuật cho đến khi mất vào năm 1998 tại Do Thái.



Sau khi vị võ sư sáng tổ Imi Lichtenfeld ra đi, nhiều tổ chức được ra đời và tranh cải vẫn tiếp diễn về vấn đề ai là người sẽ lên kế vị ông Imi. Có người bi quan cho rằng “Krav Maga” có thể chỉ là một loại võ thuật được nói đến một cách tổng quát như chữ “boxing” mà thôi. Hiện nay có nhiều tổ chức đứng dưới trướng của Krav Maga như sau:



• The Israeli Krav Maga Association (IKMA)



• The International Krav Maga Federation (IKMF)



• Krav Maga Worldwide (KMWW)



• The South American Federation of Krav Maga (SAFKM)



• Commando Krav Maga (CKM)



• The Krav Maga Association of America (KMAA)



• The European Federation of Krav Maga (FEKM)



• Krav Maga Incorporated (KMI)



• Israeli IMI System - Krav Maga (IIS)



• Operational Krav Maga (OKM)



• Krav Maga Sweden (KMS)



Hệ thống đai đẳng của Krav Maga cũng chưa được thống nhất. Trong tổng hội Krav Maga có trụ sở tại Do Thái và 2 chi nhánh ở Nam và Bắc Mỹ. Hệ thống đai đẳng của họ có 5 màu đai (vàng, cam, xanh lá cây, xanh dương và nâu) trước khi lên đai đen. Trong hàng đai đen cũng có lối sắp xếp “đẳng” như các môn phái khác.



Trong tổng liên đoàn Krav Maga Thế Giới dành cho dân sự đẳng cấp được chia ra 5 hạng. 3 hạng đầu là môn sinh, hạng kế là Graduate hay tốt nghiệp và hạng sau cùng là Expert hay chuyên viên. Mỗi hạng chia làm 5 cấp và mỗi cấp được huấn luyện theo chương trình thuộc trình độ phù hợp. Ở hạng cao nhất tức “võ sư” có 3 cấp. Những ai muốn được thăng đai ở trình độ này phải về dự thi tại Do Thái vì cuộc thi cần có sự giám sát của 2 vị võ sư tầng ngũ đẳng của quân đội Do Thái thân hành chấm thi

qwertyvn
16/08/2010, 12:18
Vovinam_tieutu đai gì rồi thế? Khi nào anh em solo giao lưu học hỏi kinh nghiệm tí!

vovinam_tieutu
17/08/2010, 15:58
hiện tại thì clb mình có nhiều người đi lắm nhưng chỉ tội mình ko dc đi :((:((:((:((:((:((:(( bị tai nạn nên chẳng tập tành dc gì cả. toàn ngồi ở nhà lên mạng chém gió là chính =))=))=))=))=)) mà bạn cũng học vovinam à???? mình là lam đai nhất đẳng rồi. khi nào bạn qua clb, mình cùng trao dổi kinh nghiệm mà giao lưu nhé :D:D:D:D:D:D mà hết tháng này nhé bạn. mình bị tai nạn nên hiện giờ ko đi đâu dc cả :((:((:((:((:((:((:((:((

bate0712
18/08/2010, 11:51
Vovinam_tieutu đai gì rồi thế? Khi nào anh em solo giao lưu học hỏi kinh nghiệm tí!

mình là đệ tự của vovinam _ tieutu nếu cậu thích thì thứ 3 mình và cậu có thể solo với nhau

vovinam_tieutu
18/08/2010, 12:09
thằng đệ tử kia, hôm nay cho sư phụ lên công ty 1 mình à :-L:-L:-L:-L:-L đồ bất hiếu :-L:-L:-L:-L:-L

vovinam_tieutu
20/08/2010, 15:54
Trong bối cảnh xã hội hiện nay, hệ thống võ thuật trên thế giới ngày càng phát triển với tốc độ chóng mặt, người người học võ, nhà nhà học võ, ..... người người lập môn phái mới, nhà nhà lập môn phái mới ......hix ..... ở đâu ra mà lắm võ thế cơ chứ ....... loạn hết cả mắt ......

Thế cho nên hum nay em lang thang, vật vờ, ...... cuối cùng tìm được một cái list (tạm goi là thế), có lẽ tương đối đầy đủ về các môn phái (truyền thống) của các nước trên thế giới ..... cơ mà cũng đúng là nhiều thật. Mang về đây, mời cả nhà tham khảo, nếu thiếu hay thừa thì cho ý kiến hiệu chỉnh nhá....... bắt đầu nào, mời cả nhà :


Danh sách liệt kê theo thứ tự a bờ cờ.



Ấn Độ Trong khi các võ phái tại các nước châu Á khác (Nhật Bản, Trung Quốc, Việt Nam v.v.) thường thừa nhận ảnh hưởng từ võ thuật Trung Hoa, thì giới võ lâm Trung Hoa lại thừa nhận võ thuật của mình nguyên khởi từ Ấn Độ



• Kalaripayattu: hệ phái võ thuật tương truyền đã có lịch sử rất lâu đời hàng vạn năm.

• Vajra Mushti

• Varma Kalai

• Kuttu Varisai

• Silambam

• Adithada

• Thang Ta

• Gatka



Brasil

• Capoeira

• Brazilian Jiu-Jitsu



Campuchia

• Bokator

• Pradal Serey



Đức

• Kampfringen



Indonesia

• Pencak-Silat



Israel

• Krav Maga



Gruzia
• Khridoli



Hoa Kỳ

• Close Quarters Combat



Lào
• Muay Lao

• Ling Lom



Malaysia

• Silat

• Tomoi



Myanma

Võ của Myanma thường được gọi chung là Thaing (bao gồm cả võ tay không và binh khí), cũng được gọi là Bando (tuy nhiên Bando lại còn có tên là một bộ môn riêng trong nền võ Myanma: môn nhu quyền), cho nên Thaing là tên gọi võ thuật bao quát và chuẩn xác nhất đối với đất nước này.



• Bando (nhu quyền): Là trường phái gắn chặt với các đặc điểm tấn pháp, thân pháp, kỹ thuật phòng thủ và tránh né, các thế tấn công thường tượng hình theo các loài thú: trư công (lợn), ngưu công (trâu), độc xà công (rắn độc), lục xà công (rắn lục), lộc công (hươu), hầu công (khỉ), ưng công (chim ưng), báo công (báo), hổ công (hổ), mãng xà công (rắn).



• Leithwei (cương quyền), còn gọi là Miến quyền (Burmese Boxing)



• Naban (võ vật), chỉ xuất hiện trong các bộ tộc người Chin và Kachin thuộc vùng Himalaya.



• Banshay (binh khí), ba loại cơ bản là côn, thương và kiếm.



Nga

• Systema

• Sambo



Nhật Bản

Nhật Bản có truyền thống thượng võ lâu đời do những cuộc nội chiến liên miên, mặc dù quốc gia này trong suốt trường kỳ lịch sử chưa hề bị xâm lược và đô hộ bởi ngoại bang ngoại trừ giai đoạn ngắn ngủi các samurai phải đương đầu với đội thủy binh hùng mạnh của Mông Cổ. Nhiều hệ phái võ thuật Nhật Bản đã lừng danh thế giới như:



-Jujutsu

o Judo

o Aikido

-Koppo

-Ninjutsu

-Sumo

-Karate

-Shooto

-Kendo

-Kenjutsu

-Iaijutsu

-Sōjutsu

-Naginatajutsu

-Kyudo

-Shorinji Kempo



Pháp

• Savate

• La canne

• Lutta corsa



Philippines

• Eskrima



Thái Lan

Muay Thai.

Thái Lan nằm trên bán đảo Đông Dương, chịu ảnh hưởng của Phật giáo và nền văn hóa Ấn độ, phong kiến Trung quốc. Nền võ thuật nước này chịu ảnh hưởng nhiều của võ thuật Trung Quốc và Ấn độ, tuy nhiên khi người phương Tây đến đây, dấu ấn lớn nhất để lại là môn Muy Thai, nó hơi giống như Kick box của người phương tây nhưng lại có nét đánh phù hợp của người phương đông.

• Muay Thai (Quyền Thái)

• Muay Boran

• Krabi Krabong



Trung Quốc

Trước kia trong đồng đạo võ lâm thường tôn vinh "bát đại môn phái" (Thiếu Lâm, Võ Đang, Nga Mi, Côn Luân, Không Động, Thanh Thành, Hoa Sơn, Toàn Chân) hoặc "thất đại môn phái" (Thiếu Lâm, Võ Đang, Nga Mi, Côn Luân, Không Động, Thanh Thành, Hoa Sơn) võ thuật Trung Hoa, trong đó Võ Thiếu Lâm được đề cao là ngôi sao Bắc đẩu. Gần đây nhất, trong cuốn Võ thuật thần kỳ của Trịnh Cần và Điền Vân Thanh, Trung Quốc, bản dịch được Nhà xuất bản Hà Nội, H. 1996 xuất bản, các tác giả khẳng định Trung Hoa bao gồm không dưới 500 võ phái khác nhau, trong đó nổi tiếng nhất là những phái chính:



• Tượng Hình Quyền

• Thái Cực Quyền

• Võ Đang Quyền

o Nội Gia Quyền

o Bát Quái chưởng

... ... ...

• Thiếu Lâm Quyền

o Trường Quyền (Bắc Quyền) (Bắc Thiếu Lâm)

§ Tra Quyền

§ Hóa Quyền

§ Hoa Quyền

§ Pháo Quyền

§ Trốc Cước

§ Đàm Thoái

§ Phách Quải Quyền

§ Thông Bối Quyền

§ Phiên tử Quyền

§ Bát Cực Quyền

§ Yến Thanh Quyền còn gọi là Mê Tông Quyền hay Mê Tung Quyền

§ Hình Ý Quyền còn gọi là Lục Hợp Quyền (Phái Thiếu Lâm Vy Đà)

§ Ðường Lang Quyền

§ Ưng Trảo Quyền

... ... ...



o Nam Quyền (Nam Thiếu Lâm)

§ Hồng Gia Quyền

§ Bạch Hạc Quyền

§ Bạch Mi Quyền

§ Vịnh Xuân Quyền

§ Phật Gia Quyền

§ Thái Lý Phật

§ Châu Gia Quyền

... ...

Các bộ môn quyền thuật trên trong khoảng 500 võ phái của khắp miền Nam Bắc Trung Hoa chính là xuất phát từ trong dân gian sau này được các môn đồ của Thiếu Lâm tích hợp vào hệ thống Thiếu Lâm Quyền và biến nó thành những hệ phái Bắc Thiếu Lâm và Nam Thiếu Lâm. Do vậy nói Bồ Đề Đạt Ma là sáng tổ ra võ Thiếu Lâm và võ thuật Trung Hoa như nhiều võ sư xác tín liệu có chính xác và công bằng không trong khi võ Thiếu Lâm là một sự pha trộn và tích hợp giữa các bộ môn quyền thuật dân gian ở Trung Hoa và Ấn Độ. Chùa Thiếu Lâm và võ Thiếu Lâm thật ra chỉ có công tích hợp và hệ thống lại bởi các môn đồ xuất sắc của Thiếu Lâm Tự.



Các bộ môn quyền thuật của miền bắc Trung Hoa như Hình Ý Quyền, Bát Cực Quyền, Thông Bối Quyền, Mê Tung Quyền, Phách Quải Quyền, ... đều có một tên chung là Trường Quyền. Các bộ môn quyền thuật của Nam Thiếu Lâm như Ngũ Đại Danh Gia Quyền Thuật Nam Thiếu Lâm : Hồng gia (Hung gar), Lưu gia (Liu Gar), Lý Gia (Li Gar), Mạc Gia (Mo Gar) và Thái Gia (Choy Gar), Bạch Mi Quyền (còn gọi là Thiếu Lâm Bạch Mi), Thiếu Lâm Vịnh Xuân Quyền gọi tắt là Vịnh Xuân Quyền ... được gọi tất cả bằng một tên chung là Nam Quyền.



Do vậy cũng nên lưu ý rằng danh từ Trường Quyền không phải là một môn phái mà là khái niệm chỉ tất cả các bộ môn quyền thuật miền bắc Trung Hoa (sau này gọi là Bắc Thiếu Lâm), cũng như danh từ Nam Quyền không phải là một môn phái mà là khái niệm chỉ tất cả các bộ môn quyền thuật miền nam Trung Hoa (là Nam Thiếu Lâm.



Sau này người Trung Hoa thường có câu Thiên Hạ Công Phu Xuất Thiếu Lâm (tất cả các phái võ và các bộ môn quyền thuật nam bắc Trung Hoa đều có nguồn gốc từ Thiếu Lâm).

Câu nói này chỉ đúng một nửa và cũng cho thấy rằng võ Thiếu Lâm không phải là cái nôi xuất xứ tất cả các phái võ khác mà phải nói ngược lại rằng nó (võ Thiếu Lâm) đã tích hợp các dòng võ khác và làm cho chính nó trở nên phong phú hơn và đa phong cách thể hiện. Võ Thiếu Lâm và võ thuật Trung Hoa nói chung là một công trình sáng tác của các thế hệ võ thuật ở Trung Hoa, trong đó có các môn đồ của chùa Thiếu Lâm. Bằng không câu nói trên sẽ dẫn đến vô số điều ngộ nhận hơn nữa về sau.



Triều Tiên

• Happkido (Kyuc-too-ki) môn võ tổng hợp, khai thác những ưu điểm của Taekwondo, Karatedo, Kendo, Aikido, Boxing thành một dạng võ tự vệ.

• Taekwondo (Đài quyền đạo hay Túc quyền đạo) môn phái đặc trưng với sự nhấn mạnh đòn chân và tính chất thể thao của bộ môn.

• Tangsudo (Đường thủ đạo)



Việt Nam

Bên cạnh những nét tương đồng với nền võ thuật rộng lớn của Trung Hoa do ảnh hưởng từ giao lưu văn hóa, các phái võ Việt Nam, hay còn được gọi với tên "Võ Thuật Cổ Truyền" vẫn thể hiện những đặc điểm khác biệt rõ rệt với các nền võ học khác trên thế giới nói chung và Trung Hoa nói riêng: thứ nhất, sự xuất hiện của lời thiệu bằng thơ, phú; thứ hai: bộ pháp vận hành theo đồ hình bát quái (lưỡng túc bát quái vi căn), khi đứng thì vững như đá tảng, khi di chuyển thì nhẹ nhàng linh hoạt như lá bay; thứ ba, bộ tay áp dụng theo ngũ hành pháp (song thủ ngũ hành vi bản); thứ tư, kỹ thuật đòn thế được chọn lọc, phân thế riêng phù hợp với cách đánh của từng dạng đối tượng, địa hình, nhất là lối đánh cận chiến một người chống lại nhiều người; thứ năm, tận dụng triệt để lối đánh "cộng lực" - dựa vào sức lực đối phương để triệt hạt đối phương v.v. Danh sách chưa đầy đủ các phái võ Việt Nam ( ở trong và ở ngoài nước Việt Nam) bao gồm:



• Bạch Hổ võ phái

• Bạch Long Chiến Đạo

• Võ Thuật

• Bình Định gia

• Việt Võ Đạo

• Nhất Nam

• Lam Sơn căn bản

• Lâm Sơn Động

• Phật gia quyền

• Sa Long Cương

• Không Động

• Long Hổ Không Hồng

• Hoa Quyền

• Lam Sơn võ đạo

• Nam Hồng Sơn

• Nam Huỳnh Đạo

• Nam Tông

• Vĩnh Xuân Quyền (Việt Nam)

• Phạm Gia võ pháiQuán khí đạo

• Thăng Long võ đạo

• Thiên Môn Đạo

• Tân Khánh Bà Trà

• Thất Sơn Thần Quyền

• Thiếu Sơn Phật Gia

• Thiếu Lâm Long Phi

• Thiếu Lâm Bắc Truyền Thiên Mục Sơn

• Thiếu Lâm Nội Gia Quyền

• Thiếu Lâm Bắc Phái Mai Hãn

• Tây Sơn Quyền

.............................

bate0712
20/08/2010, 21:58
Sambo-Quoc vo nuoc Nga
I – TỔNG QUAN VỀ SAMBO:

A. – Nguồn gốc của SAMBO:

SAMBO là môn võ thể thao và tự vệ hiện đại được truyền bá tại Liên Xô cũ (Nga) vào đầu thế kỷ 20. Tên gọi của môn võ này, trong tiếng Nga là САМБО, được viết tắt từ ”САМозащита Без Оружия” . Một số nơi trên thế giới còn gọi SAMBO là SOMBO, như tại Mỹ và tại một số quốc gia khác.

Theo tư liệu của Liên đoàn các Bộ môn Võ vật thế giới (International Federation of Associated Wrestling Styles (FILA)), SAMBO hiện là một trong 4 bộ môn võ vật có tổ chức giải đấu nghiệp dư chính thức trên toàn thế giới. Ba bộ môn võ vật còn lại gồm: Vật cổ điển (Greco-Roman Wrestling 1), Vật tự do (Free-style Wrestling 2) và Nhu đạo (Judo 3).

SAMBO được phát triển dựa sự trên kết tinh và tập hợp nền tảng của các nghệ thuật vật truyền thống của các dân tộc thuộc Liên bang Xô Viết. Bộ môn cũng không ngừng phát triển và kế thừa có chọn lọc những tinh hoa của các môn võ vật khác trên thế giới. Chính vì vậy, khác với các bộ môn võ thuật khác, SAMBO được xem như được gầy dựng bởi nhiều thế hệ của dân tộc Nga và không có người sáng lập . SAMBO chính thức được Hội động thể dục thể thao tòan Liên Bang Xô Viết công nhận là một môn thể thao vào ngày 16/11/1930 và chính thức trở thành một môn kỹ năng bắt buộc cho lực lượng vũ trang của Liên Xô (và Nga ngày nay).

B. – Các hướng phát triển của SAMBO hiện đại:

Xuất phát từ gốc, SAMBO được chia thành ba hướng phát triển theo nhu cầu của cộng đồng:

- SAMBO thể thao (Sport SAMBO): Đây là hướng phát triển của САМБО, có tên gọi tiếng Nga là БОPБA САМБО, (theo tiếng Việt, nghĩa là SAMBO thi đấu). Hướng phát triển này được tổ chức và xây dựng cho các giải thi đấu Đô vật nghiệp dư hay giải thi đấu Nhu đạo nghiệp dư. Về phương thức thi đấu, tương tự như Nhu đạo (Judo hiện đại), САМБО cũng có một số nét đặc trưng riêng về luật thi đấu, nghi thức và võ phục. Ví dụ về luật thi đấu, САМБО khác với Nhu đạo hiện đại (Judo hiện đại) ở một số điểm như sau: o Cho phép sử dụng mọi đòn khóa chân của đối thủ. o Nghiêm cấm mọi kỹ thuật khóa gây bất tỉnh (Chokeholds Technics 4).

- SAMBO tự vệ (Self – Defence SAMBO): Đây là hướng phát triển của môn võ САМБО, có tên gọi tiếng Nga là САМОЗАЩИТHO САМБО. Hướng phát triển này được tổ chức và xây dựng trên cơ sở kết hợp với kỹ thuật tự vệ của Aikijutsu, Jujitsu hay Aikido, và các kỹ thuật dùng để tự vệ tay không hay sử dụng vũ khí khác.

- SAMBO chiến đấu (Combat SAMBO): Đây là hướng phát triển của môn võ САМБО, có tên gọi tiếng Nga là ВОЕВОЕ САМБО. Hướng phát triển này được dùng để huấn luyện cho quân đội, Chính vì vậy, nhánh này khá xa rời với cội nguồn САМБО ban đầu. Nhánh này bao gồm tất cả các kỹ thuật tự vệ có vũ khí hay tay không thực dụng. Nói cách khác, nhánh này tương tự như môn võ tự do hiện đại, trong đó, САМБО được kết hợp với nhiều kỹ thuật thực chiến khác (striking & grappling technics).

C. – Võ phục thi đấu của SAMBO:

Võ phục của các võ sinh SAMBO gồm:

*

Aùo võ phục màu xanh dương hay màu đỏ (tương tự áo võ phục của Judo), được gọi là КУРТКА (Kurtka).
*

Đai buộc (không có màu bắt buộc, thường gồm các màu chính sau: trắng, đen, xanh nước biển và đỏ, có thể sử dụng các màu khác nhưng hiếm).
*

Quần đùi thể thao ngán cùng màu vói áo hay có thể có màu đen/ trắng.
*

Đôi giày mềm tưong tự trong bộ môn vật cổ điển/ tự do, thường được gọi là САМБОВКИ (Sambovki).

II – LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN SAMBO:

Các nhà tiên phong trong phong trào phát triển SAMBO đã cởi mở tiếp thu có chọn lọc nghệ thuật tự vệ thực dụng của các dân tộc trên thế giới, để củng cố và nâng cao kỹ năng chiến đấu tay không cho lực lượng vũ trang tại Liên Xô cũ và Nga ngày nay (Hình 1. Bìa cuốn sách hướng dẫn “Kỹ thuật thi đấu SAMBO” (БОРЬБА САМБО), xuất bản 1973, tại Liên Xô). Trên lý thuyết, SAMBO tiếp thu nền tảng võ thuật truyền thống của dân tộc Nga xây dựng, và không ngừng tiếp thu các kỹ thuật chiến đấu và học thuyết võ thuật của tất cả các dân tộc khác trên thế giới, thực dụng và phù hợp nhất với đặc điểm nhân chủng học của dân tộc mình. Xuất phát từ vị trí giao thoa giữa Châu Aâu và Châu Á, nước Nga đã không ngừng tiếp thu các kỹ thuật chiến đấu từ chính các đạo quân xâm lược khác của họ trong suất bề dày lịch sử vệ quốc. Trong lịch sử , nước Nga đã từng chịu sự đe dọa từ nhiều phía:

*

Các tộc người Viking từ phía Tây (Bắc Aâu, vùng Scandinavji ngày nay).
*

Các tộc người Tartar và tộc Lều Vàng của Thành Cát Tư Hãn (Genghis Khan’s Golden Horde) từ phía Đông (Mông Cổ ngày nay).

Về mặt địa lý, SAMBO cũng thể hiện sự giao thoa giữa các nền văn hóa của các dân tộc thuộc Liên Xô (cũ), ví dụ như nghệ thật tự vệ:

*

Tuvan Kưräş (của dân tộc vùng Tuvan, phía Bắc nước Nga, thuộc các nước Cộng hòa Estonia và nước Cộng hòa Litva (Lithuana) ngày nay),
*

Yakuts khapsagai (của dân tộc vùng Yakuts – cực Đông nước Nga),
*

Chuvash akatuy (của dân tộc Chuvash, thuộc nước Cộng hòa Kazaxtan ngày nay),
*

Georgian chidaoba (của dân tộc Gruzia/ Georgia, thuộc nước Cộng hòa Gruzia ngày nay),
*

Moldavian trinta (của dân tộc Moldavia, thuộc nước Cộng hòa Moldavia ngày nay),
*

Armenian kokh (của dân tộc Armenia thuộc nước Cộng hòa Armenia ngày nay),
*

Uzbek Kurash (của dân tộc Uzbek, thuộc nước Cộng hòa Uzbekistan ngày nay),

Các ảnh hưởng từ bên ngoài tác động đến quá trình phát triển của SAMBO được ghi nhận từ nhiều nền võ thuật khác nhau như: các kỹ thuật vật của phương Tây (European Wrestling), Nhu thuật phương Đông (Oriental jujitsu) và cả một số các kỹ thuật tự vệ đã được chuẩn hóa và đưa vào thi đấu tại thế vận hội như: Quyền Anh (Boxing), Vật cổ điển (Greco-Roman wrestling) và vật tự do (free-style wrestling), … SAMBO ngoài ra còn rút tỉa một số kỹ thuật dị biệt của một số môn khác vào trong kỹ thuật của mình, ví dụ như: cảc kỹ thuật đâm, thích kiếm (lunging techniques) và các kỹ thuật đỡ gạt (parrying techniques) trong môn đấu kiếm Ý (Italian scherma fencing).

Sự phát triển của SAMBO hiện đại, trong những tháng năm đầu tiên, được sự đóng góp rất lớn và vô tư của võ sư Vasili Oshchepkov (ВАСИЛИЙ ОШЧЕБКОВ) và một võ sư Nga, tên là Victor Spiridonov (ВИКТОР СПИРИДОНОВ), trong việc chọn lựa và phối hợp các kỹ thuật của Nhu Đạo (Kỹ thuật của Nhu đạo trong giai đoạn đầu tiên khác với kỹ thuật của Nhu đạo dùng để thi đấu rộng rãi ngày nay) để bổ sung cho kỹ thuật vật truyền thống của dân tộc Nga. Cả hai ông đều hy vọng kỹ thuật đô vật của Liên Xô (Liên Bang Xô Viết cũ) có thể được cải thiện bởi sự bổ trợ của các kỹ thuật được rút tỉa từ “Tân Nhu thuật” (Kano’s jujitsu), của tổ sư Nhu đạo KANO (Kano), với kỹ thuật vật “nắm áo“ (jacket wrestling).

Oâng VASILI OSHCHEPKOV (ВАСИЛИЙ ОШЧЕБКОВ), được xem là một trong những người tiên phong trong công cuộc chấn hưng SAMBO, đã từng huấn luyện Nhu đạo (Judo) và Không Thủ Đạo (Karaté) cho Đội đặc nhiệm của Hồng quân tại Đại bản doanh của Hồng Quân. Oâng được chính tổ sư Nhu đạo (Judo), cố võ sư JIGORO KANO, công nhận huyền đai đệ nhị đẳng trong đợt đầu tiên huấn luyện cho các võ sinh nước ngoài (cùng đợt thụ phong với ông tại Nhật còn có 4 võ sư khác) và đã áp dụng triết lý của Tổ sư Nhu đạo để đặt nền tảng cho sự phát triển của nghệ thuật tự vệ Nga hiện đại.

Võ sư Victor Spiridonov (ВИКТОР СПИРИДОНОВ) là cựu chiến binh Thế chiến thứ I và là một trong những huấn luyện viên đầu tiên, được CLB Dinamo mời giảng huấn về đô vật và kỹ thuật tự vệ. Oâng có kinh nghiệm và hiểu biết sâu sắc về vật cổ điển (Greco-Roman wrestling), vật tự do (Free style wrestling), và nhiều bộ môn vật khác của các dân tộc “Xiø - la - vơ“ (theo phiên âm tiếng Việt, phân bố ở Trung và Đông Âu, hay một phần vùng đồng bằng sông Danube). Dưới vai trò là “người hướng dẫn kỹ thuật chiến đấu”, ông đã đi du khảo và tìm hiểu tại Mông Cổ (quê hương của môn đô vật Mông Cổ khá nổi tiếng) và Trung Hoa dân quốc về kỹ thuật chiến đấu truyền thống của các dân tộc tại đây.

Vào năm 1918, V. I. Lenin ký quyết định thành lập tổ chức Vseobuch (ВСЕОБУЧ) (Vseobshchee voennoye obuchienie (ВСЕОБЩЕЕ ВОЕННОЙЕ ОБУЧЕНИЕ) hay còn gọi là Học viện Quân sự tổng hợp (tương tự như General Military Training)), nhằm huấn luyện và đào tạo Hồng Quân (Red Army), hoạt động dưới sự chỉ đạo của ông N.I. Podovoyskiy (Н. И. ПОДОВОЙСКИЙ) . Trong đó, công tác phát triển huấn luyện và tổ chức kỹ năng tự vệ cận chiến cho Hồng Quân, chương trình huấn luyện bắt buộc đối với sỹ quan và quân đặc nhiệm), được giao cho huấn luyện viên K. Voroshilov (К. ВОРОШИЛОВ), là người sáng lập Trung tâm thể dục thể thao NVKD (NKVD physical training center), được biết đến trên toàn thế giới với tên gọi là trung tâm thể thao hay CLB “Dinamo” (ДИНАМО).

Vào năm 1923, hai ông Vasili Oshchepkov và Victor Spiridonov đã cùng phối hợp với một nhóm các chuyên gia khác, được Chính quyền Xô Viết giao nhiệm vụ, nhằm xây dựng một chương trình huấn luyện mới hợp lý và hiệu quả hơn về kỹ năng tự vệ cho Hồng quân. collaborated with a team of other experts on a grant from the Soviet government to improve the Red Army’s hand-to-hand combat system. Với tầm nhìn mang tính bao quát có hệ thống, Victor Spiridonov đã thu lược, sắp xếp và phối hợp các kỹ năng tự vệ trên thế giới thành một hệ thống liên hoàn để tăng khả năng tự vệ trước mọi tình huống. Cùng lúc, Vasili Oshchepkov thì nghiên cứu các kỹ thuật riêng đã được tổ sư Nhu đạo, Jigoro Kano, rút tỉa từ Nhu thuật dòng Tenjin Shin’yo Ryu (Tenjin Shin’yo Ryu jujitsu) và dòng Kito Ryu (Kito Ryu jujitsu) để áp dụng vào Nhu đạo. Đồng thời, ông cũng xây dựng một hệ thống lý luận và thực tiễn để phối hợp và đánh giá khả năng ứng dụng của các kỹ thuật chiến đấu dựa trên cơ sở khoa học vào cùng một hệ thống kỹ thuật mới của SAMBO. Đội chuyên gia sau đó được huy động thêm sự phối hợp về kinh nghiệm và kiến thức từ các ông Anatoly Kharlampiev (АНАТОЛИ ХАРЛАМПЕВ) và I.V. Vasiliev (И. В. ВАСИЛЕВ), những người đã từng thụ giáo nhiều kỹ năng tự vệ trên thế giới. Sau mười năm nghiên cứu và phát triển, bộ giáo trình huấn luyện đầu tiên của họ ra đời và đã đặt nền tảng cho SAMBO hiện đại. Trong đó, các nghiên cứu của các ông Oshchepkov và Spiridonov về phát huy khả năng của môn vật truyền thống được chuyển thành chương trình huấn luyện riêng về kỹ thuật cận chiến cho quân đội.

Mỗi kỹ thuật của SAMBO đều dược mổ xẻ và phân tích kỹ lưỡng về tính hiệu quả và hợp lý về nhân chủng học của dân tộc Nga, với tham vọng là kỹ năng tự vệ tay không với mục tiêu tối thượng là khống chế địch thủ trong thời gian ngắn nhất. Chính vì vậy, SAMBO đã đưa các kỹ thuật cận chiến hiệu quả nhất của Nhu thuật (Jujitsu) và “người anh em mềm dẻo của nó” là Nhu đạo vào hệ thống đào tạo của mình. SAMBO vẫn đang được nghiên cứu và phát triển bởi các chuyên gia về thể dục thể thao. Mục đích chính của SAMBO là tối ưu hoá kỹ thuật và khả năng huấn luyện để có thể áp dụng cho nhu cầu tự vệ cá nhân, cho cảnh sát, cảnh sát dã chiến, bộ đội biên phòng, đặc cảnh, bảo vệ yếu nhân, nhân viên bệnh viện tâm thần, quân đội và biệt kích.

Một số võ sinh SAMBO tiêu biểu:

• Fedor Emelianenko đạt giải Vô địch thế giới SANBO chiến đấu (World Combat Sambo Champion) và Vô địch giải SAMBO cận chiến toàn Liên Bang Nga (Russian Combat Sambo Champion). Anh cũng là võ sĩ võ tự do và là vô địch hạng nặng giải PRIDE Fighting Championships tại Nhật Bản.

• Aleksander Emelianenko, em trai của Fedor Emelianenko, đã từng 2 lần vô địch giải SAMBO toàn Liên Bang Nga (Russian national Sambo champion) và 2 lần vô địch giải chung kêt SAMBO thế giới (World Sambo champion).

• Oleg Taktarov là Vô địch giải UFC 6 (UFC6 Champion) và tham gia trận chung kết giải UFC ''95 Ultimate Ultimate Tournament .

• Andrei Arlovski là Vô địch hạng nặng giải UFC (UFC heavyweight champion) và Vôđịch giải SAMBO trẻ thế giới (the Junior World Sambo Champion).

• Scott Sonnon đạt huy chương bạc Giải hội thao các trường Đại học Thế giới 1993, huy chương vàng Pan-American Games 1994 và US Grand National SOMBO Championships 1995. Scott Sonnon cũng là thành viên của ban huấn luyện quốc gia của Mỹ về SAMBO từ năm 1993 đến năm 1995. Hiện nay, ông đang là huấn luyện viên trình diễn cho RMAX RMAX International .

• Vladimir Putin cũng đã từng tập luyện SAMBO một thời gian.

vovinam_tieutu
22/08/2010, 18:11
Giác đấu thời đế chế La Mã là một trò tiêu khiển vô nhân đạo, rất xa lạ với xã hội hiện nay. Tuy nhiên, trong thực tế giác đấu còn là môn thể thao mang tính chuyên nghiệp cao giống như môn bóng đá ngày nay.

Từ khởi thuỷ, giác đấu được nhiều dân tộc ở miền Nam nước Ý tổ chứa trong tang lễ tôn giáo. . Giữa thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên, giác đấu du nhập vào thành Rome và mất dần tính chât thiêng liêng để trở thành môn chơi thế tục. Bên cạnh các trận giác đấu giữa các võ sĩ, còn có loại hình giác đấu giữa người với thú hoặc thú dữ đấu với nhau.
Hôm trước ngày tổ chức giác đấu, mọi người tham gia ăn uống do người bảo trợ giác đấu ban tặng và có dịp bình luận về thể hình võ sĩ. Trước trận giác đấu, võ sĩ diễu hành trên đấu trường trong tiếng tù và thúc giục. Đi trước đoàn võ sĩ là các quan viên và cuối cùng là nhóm tử tù mang xiềng xích. . Sau đó, nhiều đôi võ sĩ cùng lúc giáp chiến trong tiếng hò la của đám đông để hâm nóng không khí. Trọng tài mặc áo trắng mang băng đỏ hoặc danh dương và kiểm tra xem võ sĩ đánh đúng luật hay không. Võ sĩ thua cuộc phải giơ tay lên hỏi ý kiến dân chúng và sẽ sống nếu đám đông chỉ ngón tay cái lên trời hoặc bị giết tại chỗ nếu đám đông chỉ ngón cái xuống đất.
Mặc dù giác đấu giữ vai trò quan trọng trong xã hội La Mã nhưng phải đến năm 80, dưới thời hoàng đế Titus, thành Rome mới khánh thành đấu trường riêng cho giác đấu: đấu trường Colisée đủ sức chứa từ 50.000 – 80.000 người xem. Các nhà kiến trúc La Mã xây dựng đấu trường theo hình elip, được bao bọc bằng nhiều hàng ghế hình bậc thang.
Kiến trúc đấu trường Colisée được mô phỏng theo sáng kiến của Curion đưa ra năm 52: đó là hai hí trường tựa lưng nhau và có thể xoay lại ráp thành hình elip. Đấu trường Colisée được lấy theo biệt danh Colosse (Người khổng lồ) dành cho hoàng đế Néron với bực tượng của vua Néron dựng cạnh đấy. Chỗ ngồi trong đấu trường được chia thành nhiều khu vực tuỳ theo đẳng cắp xã hội. Khu “cuồng gà” là hành lang cao dành cho tiện dân ngồi hoặc đứng và có chỗ dành riêng cho phụ nữ. Các hàng ghế hình bậc thang phía dưới thấp hơn có chỗ ngồi dành cho các tổ chức phường hội như thương nhân, thầy giáo… 14 hàng ghế được dành riêng cho giới hiệp sĩ, một tầng lớp giàu có trong xã hội, thường được tuyển mộ hình thành đội kỵ binh trong quân đội.
Sát sân đấu là nơi dành cho các nghị viên lão, ghế của các vị này được làm bằng đá hoa có khắc tên lên trên chỗ ngồi và tên chỉ bị đục bỏ khi đã quá cố. Trong khu vực riêng của hoàng tộc, hoàng đế xem giác đấu cùng với họ hàng và khách mời nhưng tuyệt nhiên không có mặt phụ nữ trong khu vực này, kể cả hoàng hậu. Hoàng hậu sẽ ngồi phía bên kia sân khấu trong lô dành cho các quan nhấp chính.
Mặt sân đấu gồm nhiều thanh gỗ ghép lại có trải cát bên trên và sẽ được bơm đầy nước nếu có cảnh thuỷ chiến. Phía dưới sân đấu có bố trí nơi nhốt thú gồm hai tầng với nhiều lối đi hẹp. Người dạy thú dẫn thú vào từng chuồng riêng ở tầng dưới. Sau đó, chuồng được kéo bằng tời lên tầng trên, từđó thú sẽ đi ra sân đấu. Để che nắng cho người xem, các nhà kiến trúc thời xưa đã chế tạo một hệ thống tời và dây kéo tấm vải che màu sáng phía trên mái đấu trường. 73 giữa tấm vải che là vòng tròn thắt bằng dây để cho ánh sáng đi qua.
Võ sĩ giác đấu bao gồm nhiều loại: võ sĩ mũ cá đóng vai cá và dội mũ hình cá chiến đấu với võ sĩ chụp lưới giả dạng ngư dân cầm lưới săn đuổi cá hoặc chiến đấu với võ sĩ mang dây thòng lọng thay lưới đánh cá; võ sĩ chiến xa gồm hai người đứng tựa lưng nhau: người đánh xa và người phóng lao; võ sĩ đánh khiến dội mũ mào lông cầm khiên và kiếm đánh với võ sĩ chụp lưới.

bate0712
22/08/2010, 19:54
Túy quyền và những truyền nhân tại Việt NamTrận ác đấu diễn ra vô cùng gay cấn.
Trận ác đấu diễn ra vô cùng gay cấn. Chàng trai đại diện cho chính nghĩa bị đối phương tấn công bằng những chiêu thức công phu hủy diệt, sinh mạng như đèn dầu leo lét. Thế nhưng, trong cơn nguy khốn ấy, đại hiệp may mắn được viện trợ khẩn cấp bằng một..."món quà" đặc biệt, ấy là rượu.







Nốc ừng ực cả vò rượu lớn, chàng trai rơi vào trạng thái say mèm, chân lảo đảo, mắt lờ đờ. Đối thủ thấy vậy bèn nhào tới tung đòn quyết định.

Thế nhưng, lạ thay, quyền cước của hắn chỉ tung vào không khí. Tránh né tài tình, đại hiệp vừa kịp tung ra những chiêu thức hạ gục đối thủ... Đòn thế mà đại hiệp kia sử dụng là gì mà quỷ khốc thần sầu, chuyển nguy thành an như vậy?

Đi tìm "cha đẻ" võ say

Đó là Tuý quyền, cũng là bài võ thường thấy trên phim ảnh của Trung Quốc (khán giả Việt Nam từng biết đến bài quyền này qua bộ phim Hoàng Phi Hồng do diễn viên Lý Liên Kiệt thủ vai). Và, cũng chính bởi sự hấp dẫn bài võ này... trên phim mà bấy lâu Túy quyền đã trở thành "đặc sản" của võ học Đại lục, với các lời đồn đoán nửa hư, nửa thực.

Trong quá trình đi tìm chân tuớng bài quyền trứ danh này, điều vô cùng kinh ngạc là ngay tại Việt Nam cũng có Tuý quyền, hiện nó nằm trong tay một vài cao thủ của làng võ Việt Nam.

Tìm hiểu về bài võ độc đáo này, người đầu tiên tôi nghĩ đến là võ sư Vũ Quang Tín, Trưởng tràng môn phái Hoa quyền, bởi có lần tôi thấy ông biểu diễn quyền thuật rất dẻo, có những nét giống những chiêu thức trác tuyệt của Tuý quyền. Thế nhưng, cao thủ Hoa quyền này bảo, môn phái của ông tuy nổi danh với rất nhiều những bài võ có chọn lọc, chỉnh biên từ võ Tàu, nhưng túy quyền thì không.

Rất may là võ sư Tín cũng khẳng định, ở Việt Nam có Túy quyền, nhưng rất ít môn phái sở hữu nó, những cao thủ thì chỉ đếm trên đầu ngón tay. Võ sư giới thiệu cho tôi hai môn phái mà bấy lâu, Túy quyền của họ đã được làng võ Việt Nam thừa nhận.

Theo sự giới thiệu ấy, tôi tìm đến võ sư Băng Sơn, hiệu là Bắc Phong chân nhân, Chưởng môn phái Võ lâm Phật gia. Như nhiều người đã biết, võ sư Băng Sơn ngay từ nhỏ đã theo sư phụ Lý Chấn Hòa, người Trung Quốc, sống tại Việt Nam, Chưởng môn đời thứ 44 của môn phái Thiếu lâm Phật gia luyện võ.

Sau khi Lý sư phụ về nước, ông lại vào Nam bái Thiện Tâm thiền sư Đoàn Tâm Ảnh, môn phái Côn Luân làm thầy. Kế đến, ra Bắc, ông tiếp tục tôi rèn võ công cùng lão võ sư Trần Công, hiệu là Huyền Công Đạo, môn phái Không Động.

Mấy chục năm lăn lộn trên giang hồ, được tiếp cận với nhiều bí kíp, tinh hoa võ học nhưng võ sư Băng Sơn bảo, thứ mà ông thích thú nhất, đó là được học Túy quyền với Lý sư phụ từ khi còn nhỏ. Sau này, cùng với sự tìm tòi nghiên cứu, võ sư Băng Sơn đã nâng tầm Túy quyền của mình lên một cảnh giới cao hơn.

Võ sư Băng Sơn cho biết, hiện tại ngay cả Trung Quốc vẫn chưa biết ai là người sáng tạo ra Túy quyền. Theo truyền thuyết thì bài võ này bắt nguồn từ trận hỗn chiến của 8 vị tiên trong thần thoại Trung Hoa, bởi thế nó còn có tên là Túy Bát tiên.

Tương truyền, sau khi tu luyện đạt đến trình độ thượng thừa, bát tiên (gồm Chung Ly Quyền, Lam Thái Hòa, Tào Quốc Cữu, Lữ Động Tân, Hàn Tương Tử, Hà Tiên Cô, Trương Quả Lão, Lý Thiết Quải) được Ngọc Hoàng Thượng đế giao cho nhiệm vụ diệt quái trừ yêu, bảo vệ lương dân. Một lần, vượt biển trừ yêu, bởi sóng to nên thuyền của bát tiên bị đánh đắm khiến cả tám vị chìm nghỉm ở giữa biển khơi.

Kính trọng bát tiên, long cung mở tiệc ăn mừng nhân chuyến hội ngộ kỳ duyên đó. Rượu say bí tỉ, với bản tính thích giỡn đùa, quậy phá, bát tiên đã đánh lộn với binh tôm tướng cá, gây náo loạn long cung. Kịch chiến trong lúc say, nhưng với võ công siêu đẳng, bát tiên vẫn thi triển những chiêu thực võ thuật vô cùng đẹp mắt. Sau cùng không muốn màn "siêu quậy" của bát tiên thêm nữa, Long Vương đành phải để bát tiên đi.

Thế nhưng, bởi đó là trận chiến long trời nở đất, nên hình ảnh tám vị tiên say đánh lộn đã in bóng lên trời. Thấy hình ảnh 8 vị tiên đi quyền đẹp mắt, người hạ giới cứ ngó mà học theo. Túy quyền xuất hiện từ dạo đó.

Theo võ sư Băng Sơn, đến bây giờ, tranh, tượng mô phỏng hình ảnh "Bát tiên quá hải" vẫn còn được treo, thờ trong nhiều gia đình Trung Quốc. Trong những bức tranh hay tượng ấy, mỗi vị tiên thể hiện một thế đứng đặc biệt của mình, tượng trưng cho một thế võ của Túy quyền.

Ngoài Bát tiên, trong đời sống văn học, nghệ thuật của Trung Hoa cũng xuất hiên nhiều nhân vật mà cuộc đời đã thành một biểu tượng cho tinh thần trượng nghĩa, lấy chính trực, quân tử để chiến thắng bạo tàn, dối trá. Theo võ sư chưởng môn Võ lâm Phật gia thì họ đều có bí kíp... võ say và cách thức thi triển công phu độc đáo của họ đã thành tên của một số bài Tuý quyền sau này.

Người đam mê văn học, võ thuật không thể không biết tới những trận say nghiêng ngả của hành giả Võ Tòng, một nhân vật giàu cá tính trong tiểu thuyết Thủy Hử của Thi Nại Am. Những trận say quên trời đất của vị hành giả ấy đã là nguồn cảm hứng để võ lâm sáng tạo một loạt những chiêu thức tuý quyền có tên là Võ Tòng tuý tửu. Trong số ấy tiêu biểu có trận đả hổ tại đồi Cảnh Dương, say đả Tưởng Môn Thần, đại náo Phi Vân phố...

Cũng trong tiểu thuyết lừng danh ấy, một "ông tổ" của tuý quyền đã được Thi Nại Am, sau này là phim ảnh Trung Quốc mô tả vô cùng rõ nét, đó là nhà sư tính tính lỗ mãng nhưng rất đáng yêu Lỗ Trí Thâm. Thật hiếm khi thấy nhân vật này xuất hiện mà không có nậm rượu bên mình. Bởi luôn sống trong tình trạng... say xỉn nên hoà thượng này đã để lại nhiều trận đánh kinh hồn bạt vía. Trong số những trận đánh bởi ma men điều khiển ấy hẳn nhiều người không thể nào quên trận "tuý đả sơn môn", say giao đấu với cả trăm vị hoà thượng tại chùa trên Ngũ Đài Sơn.

Khi nhắc đến môn võ độc đáo này, theo võ sư Băng Sơn thì không thể không nhắc tới một "ông tổ" nữa đó là... Tôn Ngộ Không trong tiểu thuyết Tây Du Ký của Ngô Thừa Ân. Với trận say nghiêng ngả này, lão Tôn đã một mình đại náo thiên đình bằng những động tác võ thuật vô cùng uy lực. Bởi trận chiến làm thiên binh thiên tướng thất điên bát đảo này, chúa tể của Hoa Quả sơn đã là nguồn cảm hứng để làng võ sáng tác ra những chiêu thức ảo diệu trong Tuý hầu quyền.





Tuyệt kỹ của đệ tử... Lưu Linh?

Trên phim ảnh, thường thì những người thi triển tuý quyền đều ở trạng thái say bí tỉ, không phân biệt thế nào là thật giả, đúng sai. Mắt thì lờ đờ, điệu bộ thì liêu xiêu, ngật ngưỡng. Rượu càng nhiều thì võ càng thăng hoa, uy lực.

Phải chăng, muốn sử dụng được Tuý quyền thì người luyện võ phải luyện thêm cho mình khả năng... uống rượu?

Trao đổi điều này với võ sư Băng Sơn, ông khẳng định: Không có chuyện rượu vào... võ ra như trên phim. Cốt lõi của tuý quyền là hình say chứ ý không say, bước say chứ tâm hoàn toàn tỉnh táo. Cụ thể hơn, Tuý quyền là bài võ có quyền pháp bắt chước hình ảnh của người say chứ không phải thực say. Hình ảnh người say trên phim ảnh đó chỉ có tính chất nghệ thuật, hư cấu, những nhà làm phim muốn khắc họa một cách ẩn ý triết lý cốt lõi của bài võ độc đáo này.

Triết lý đó là dù thân thể có say đến mấy thì tâm người luyện võ vẫn phải tỉnh táo. Còn thực tế, rượu đã say mèm, đứng còn không vững thì đừng nói chuyện... đánh đấm.

Tuý quyền tiềm ẩn sức mạnh trong các thế đứng và vồ. Khi chiến đấu, người võ sĩ phải vận dụng, phối hợp nhuần nhuyễn nhãn pháp (mắt), thủ pháp (đòn tay), cước pháp (đòn chân) và thân pháp (di chuyển, thân người võ sĩ luôn ở trạng thái khật khưỡng, hoặc uốn từ đông sang tây, vươn ngẩng về phía trước, hay ngửa gập ra phía sau).

Túy quyền kết hợp nhiều động tác tay nhưng ấn tượng và đặc trưng nhất vẫn là động tác nâng chén rượu mời. Còn thân pháp thì chú trọng đến thế ngã, lăn lộn, tung người. Trong tất các các thế này đều chứa đựng cả thế công và thủ. Cước pháp thì đặc trưng là những "cú đá người què" như đá móc, nằm đá...

Tuý quyền "madein Việt Nam"

Cũng nhờ sự giới thiệu của võ sư Vũ Quang Tín, Trưởng tràng Hoa quyền mà tôi đã được tận mắt chiêm ngưỡng nét hoa mĩ, hài hước ở những chiêu thức Túy quyền do chính tác giả của bài võ ấy, lão võ sư Trần Hưng Quang, Chưởng môn phái Bình Định Gia, biểu diễn.
Lão võ sư Trần Hưng Quang (từng đóng vai Ốc trong vở tuồng Nghêu, Sò, Ốc, Hến) tuổi đã ngoại bát tuần nhưng còn minh mẫn lắm. Quê gốc ở đất võ Bình Định, sớm được các danh sư nổi tiếng truyền thụ võ công nên khi ra Hà Nội, ông đã làm rạng danh võ phái Bình Định Gia của mình.

Hoà cùng các bài võ đã đi vào truyền thống của Bình Định, mới đây, lão võ sư còn "trình làng" những chiêu thức võ công mới, do ông tự sáng tác có tên chung là Tuý quyền, được làng võ vô cùng hâm mộ.

Lão võ sư cho biết, các chiêu thức trong Tuý quyền của môn phái ông không phỏng theo bất cứ môn phái nào, đó là kết quả của cả đời lăn lộn, nghiên cứu, nghiền ngẫm, đúc kết của riêng cá nhân ông. Bởi tuổi đã cao, chân tay đã yếu nên các động tác quăng quật, tung người, lăn lộn của lão võ sư không còn lanh lẹ nữa, nhưng khuôn mặt, điệu bộ say thì lão võ sư "diễn" đạt vô cùng.

Lão võ sư cho biết, tập Tuý quyền đã vô cùng khó, đạt tới đỉnh giới cao nhất của Tuý quyền lại càng khó hơn. Dù Tuý quyền đã chính thức là "tài sản" của môn phái nhưng cho đến giờ chỉ có 2 môn đồ của võ sư có thể biểu diễn được ở trình độ cao.

Trong hai môn đệ ấy, người từng biểu diễn Tuý quyền và dành huy chương vàng ở Hội diễn võ thuật cổ truyền Hà Nội, do sức khoẻ yếu đã từ giã con đường võ thuật. Thế nên, theo lão võ sư, Tuý quyền của Bình Định Gia vẫn chưa tìm thấy một truyền nhân thực thụ.

Tuý quyền của Bình Định Gia có 50 thế đánh, nhưng để bắt đầu luyện tập thì người luyện võ phải có cơ bản là 3 năm tôi rèn võ thuật trước đó. Bài đầu tiên của Tuý quyền là tập mắt, bởi ánh mắt là "mồi nhử", khiến đối phương tưởng địch thủ của mình... say thật. Cứ đứng trước gương mà luyện, luyện đến khi nào ánh mắt lờ đờ, nhìn như không nhìn, liếc như không liếc, xéo như không xéo mới đạt.

Tiếp đến là tập nét mặt. Sắc mặt người say có nhiều điểm khác so với người tỉnh táo. Lão võ sư bảo, chỉ nhìn sắc mặt là có thể đoán ngay kẻ đối diện mình say hay tỉnh, quắc cần câu hay chỉ mới lây phây. Kế đến là... âm thanh. (Chi tiết này có lẽ chỉ có Tuý quyền của Bình Định Gia mới có). Đó là những tiếng ợ, nấc, thậm chí cả tiếng... "cho chó ăn chè".

Bởi là bài võ dựa vào địa hình, địa vật để chiến đấu nên sau những bài tập về thần thái là những bài tập nhào lộn, quăng quật. Để thuần thục bài tập này, người luyện võ phải chấp nhận những vết bầm dập bởi những cú va chạm do... ngã. Bài tập này chỉ hoàn thành khi người luyện ngã chơi mà như ngã thật, nhào lộn, bật, bốc thân nhẹ nhàng tựa lá vàng bay.

Sau những bài tập nền tảng trên thì chiêu thức Tuý quyền mới được lão võ sư truyền dạy. Lão võ sư bảo, nếu có cơ bản võ thuật, học Tuý quyền thì chỉ mất vài tháng, thế nhưng, để thành cao thủ có lẽ phải là người có cơ duyên. Bằng chứng là nhiều môn đệ của lão võ sư dù hấp thụ rất nhanh những bài võ khác nhưng Tuý quyền tập mãi và vẫn chẳng thành.

Phái Võ lâm Phật gia của võ sư Băng Sơn cũng chung "cảnh ngộ" như võ phái của lão võ sư Trần Hưng Quang. Dù võ say (Tuý quyền vân du) đã là bảo vật của môn phái, đã được nhiều người luyện võ ngưỡng mộ, nhưng đến giờ, những người học được tuý quyền vẫn chỉ đếm trên đầu ngón tay.




Lão VS Trần Hưng Quang đang thi triển Túy Quyền

Tuý quyền lợi hại như... phim?

Theo võ sư Băng Sơn, làng võ Việt Nam, ngoài môn phái của ông và Bình Định Gia thì võ say còn xuất hiện ở các môn phái như Thiếu lâm Châu gia ở TP.HCM với những bài như Tuý hầu quyền, Tuý hầu côn. Võ phái Hồng Gia quyền ở Đà Nẵng với bài Bát tiên tuý tửu và dòng Phan gia võ học ở Quảng Nam với bài Tuý quyền, Tuý nhân kiếm...

Tuy thế, theo võ sư Băng Sơn, từ khi xuất hiện, võ say chưa thực sự được "thử lửa" bởi làng võ chưa từng chứng kiến cuộc thư hùng nào của những cao thủ. Sở dĩ như vậy là bởi võ say chỉ được sử dụng khi những cao thủ uyên thông bài võ này gặp những đối thủ dưới tầm, vừa đánh vừa... trêu. Còn khi đối đầu với những đối phương ngang tầm chẳng ai sử dụng võ say cả, bởi có nhiều lối đánh khác giải quyết trận chiến nhanh hơn, hiệu quả hơn.

Và, theo võ sư Băng Sơn, nếu có phải vận dụng đến bài võ ảo diệu này thì người ta cũng chỉ vận dụng chiêu thức, đòn thế để tấn công đối thủ trong chớp nhoáng. Các động tác dật dờ, liêu xiêu, bước thấp bước cao của người say cũng sẽ bị lược bỏ cho... đỡ mất thời giờ.

Tuy thế, đã vài lần thử dùng võ say trong các cuộc đánh giao lưu với đồng đạo võ lâm, võ sư Băng Sơn thấy uy lực của võ say là vô cùng lợi hại, rất phù hợp cho những trận đánh ở tư thế gần.

Vui xuân, nhiều người quá chén. Thế nhưng, khi ấy đừng ai có dại mà biểu diễn "võ say" bởi "võ" ấy chỉ nhận cho mình phần họa mà thôi

bate0712
01/09/2010, 08:26
Kiếm đạo Nhật Bản




Văn hóa Nhật bản độc đáo là bởi nó có sự kết hợp của nét truyền thống và hiện đại , trong đó , kiếm đạo là một nét văn hóa đặc trưng mà người Nhật tự hào .Hôm nay sẽ giới thiệu với mọi người một chút về kiếm đạo Nhật Bản , định làm hẳn về chủ đề samurai nhưng nó lớn quá , không thể nói hết trong một entry được .

Kiếm được người Nhật sử dụng nhiều nhất trong các cuộc chiến tranh thời phong kiến , nghe nói có nguồn gốc đầu tiên là từ Trung Quốc . Từ hình dạng thẳng , cấu trúc đơn giản thì khi qua Nhật Bản , nó đã được cải tiến với đường gươm lượn cong , cán dài , mang tính đặc thù của Nhật Bản .
Nói về thời gian ra đời thì có tài liệu ghi là thế kỷ thứ 8 nhưng có tài liệu lại cho là thế kỉ thứ 10 thanh kiếm đậm chất Nhật Bản mới xuất hiện .
This image has been resized.Click to view original image
Ý nghĩa:
Với một samurai thì thanh kiếm là một thứ không thể thiếu , nó không những chỉ là một công cụ chiến đấu lợi hại mà còn đại diện cho tinh thần chiến đấu , phẩm giá và danh dự cho họ . Nó như tâm hồn của mỗi võ sĩ samurai vậy , kiếm và người như hòa làm một , "Kiếm còn người còn , kiếm mất người cũng mất " . Chính vì vậy mỗi samurai coi thanh kiếm như mạng sống của mình , không ai được quyền sở hữu, những thanh kiếm quý sẽ được lưu truyền trong dòng tộc , thế hệ trước để lại cho thế hệ sau . Đấy là về phần ý nghĩa , còn bây giờ Juan sẽ giới thiệu cho mọi người về các chủng loại kiếm : Nếu chia theo độ dài , cấu tạo thì kiếm Nhật có 3 loại : Trường kiếm (kiếm dài - Tachi hoặc Katana ) , đoản kiếm (Kodachi hay Wakizashi) ngắn hơn một chút , cùng với kiếm dài tạo thành bộ song kiếm và kiếm ngắn , gần như dao găm (Tanto hoặc Akuchi ).Kiếm ngắn dùng khi cận chiến hoặc trong nghi thức Seppuku (mổ bụng tự sát).

Nếu chia về chức năng thì kiếm Nhật gồm 2 nhóm :
Cặp kiếm chiến đấu :Tachi và Tanto
Cặp kiếm dân sự :Katana và Wakazashi .

Cặp kiếm chiến đấu thì thường sử dụng khi samurai mặc giáp phục , còn một khi cởi bỏ áo giáp thì họ chuyển sang sử dụng cặp Katana và Wakazashi . Katana có cấu tạo giống Tachi , chỉ khác một chút là Tachi có thêm bộ phận phụ ở vỏ bao để đeo bên hông .
Tachi , lưỡi gươm có cấu tạo cong , chuôi dài có thể nắm bằng cả hai tay . Vỏ bao có bộ phận phụ để đeo bên hông . Dùng khi mặc giáp phục .
This image has been resized.Click to view original image
Tanto : cấu tạo giống Tachi nhưng ngắn , gần giống như dao găm vậy . Dùng khi giáp chiến hoặc trong nghi thức Seppuku (mổ bụng tứ sát ) Sau đây là show hàng Tanto :



Katana: có cấu tạo giống Tachi nhưng không có bộ phận phụ để đeo bên hông , và dùng khi cởi bỏ áo giáp


Wakazashi: có cấu tạo dài hơn Tanto và hợp với Katana thành một cặp song kiếm .

Có thể nói sau một khoảng thời gian dài phát triển, môn kiếm thuật Nhật Bản Kenjitsu, với những đặc trưng riêng mới được hình thành. Những kiếm sĩ thành danh thường xây dựng một hệ thống kỹ thuật riêng để lập nên những trường phái rồi cứ thế truyền từ đời này sang đời khác.Tinh hoa nghệ thuật cũng theo đó dần dần phát triển thêm lên. Tuy nhiên phải đến cuối thế kỷ 14 đầu thế kỷ 15 bài tập đối luyện kiếm thuật (Kata) với tổ hợp động tác công - thủ - phản công có quy ước mới được nghiên cứu và đưa vào hệ thống huấn luyện. Măi cho tới cuối thế kỷ 15, kiếm gỗ (Bokken) mới bắt đầu được sử dụng trong những buổi tập luyện. Thời kỳ này lư thuyết chung về kiếm thuật đă được hoàn thiện nhằm mục đích huấn luyện trong giới Samurai. Không chỉ vậy lư thuyết này c̣n được kết hợp với tư tưởng Nho Giáo để xây dựng một triết lí về phong cách sống và hành động của giới vơ sĩ đạo (Bushido).
Kiếm gỗ (Bokken)
This image has been resized.Click to view original image

This image has been resized.Click to view original image


Theo một số thư tịch cổ để lại th́ từ thế kỷ 15 - 17 trên toàn nước Nhật có khoảng 600 trường phái kiếm thuật, chưa kể đến các môn võ thuật khác. Có thể nói thời kỳ này đánh dấu một bước phát triển của nghệ thuật sử dụng kiếm, bởi trước đó thanh kiếm chỉ được coi là thứ vũ khí giết người. Khởi đầu của bộ môn nghệ thuật kiếm phải kể tới kiếm sư Sekishu - người sáng lập trường phái Yagyu Shinkage dưới sự bảo trợ của tướng quân Tokugawa Ieyasu, ông đă truyền giảng cho môn sinh của ḿnh khái niệm về sự cảm nhận tâm linh đạt được qua việc tập luyện kiếm thuật. Con trai của ông là Munenori (1571 - 1646) - một kiếm sĩ tài ba sau này đă biên soạn cuốn "Fudochi - shinmyoroku" mà nội dung chủ yếu của nó kể về kinh nghiệm trực ngộ "Thiện đạo" trong kiếm thuật. Yagyu Shinkage cũng như Maniwa Nen, Shinkatato, Ono - ha Intto là những trường phái tiên phong trong khuynh hướng chuyển từ Kiếm thuật sang Kiếm đạo (Kendo), đồng thời đưa kiếm tre (Shinai) vào luyện tập và thi đấu. Kiếm tre ban đầu được chế tạo bằng cách dùng 4 mảnh tre dài ghép lại đút vào một cái bao dài bằng da cóc hoặc da thuộc chưa có miếng lá chắn che tay (Tsuba).

Sau này nó được cải tiến với bao vải thay thế bao da, thêm miếng lá chắn vào và có trọng lượng gần bằng kiếm thuật song có hình dạng thẳng.
Đến thế kỷ 18, kiếm tre và sàn tập bằng gỗ trở nên phổ biến tại các trường phái dạy kiếm, hơn thế có các dụng cụ hỗ trợ tập luyện như: giáp che ngực, mũ che đầu, găng tay bảo vệ... cũng được cách tân từ binh giáp truyền thống để trang bị cho môn sinh theo học kiếm đạo. Sang thế kỷ 19, kiếm đạo phát triển rộng trong quần chúng cũng như nhiều môn võ khác, và nó không chỉ thu hẹp trong giới Samurai. Bằng chứng là đă có rất nhiều cuộc biểu diễn kiếm đạo được tổ chức cho công chúng xem tại những nơi sinh hoạt công cộng.
Cuối cùng, giờ đây kiếm đạo đă trở thành một trong những nét văn hoá đặc trưng truyền thống mà mỗi khi nhắc tới văn hoá Nhật Bản chúng ta không thể không kể tới sự góp mặt của nó. Có một sự kiện làm thay đổi làng võ Nhật Bản, ảnh hưởng trực tiếp đến kiếm đạo xảy ra vào năm 1882, khi võ sư thiên tài Jigoro Kano bắt đầu truyền bá môn Nhu đạo (Judo) mà ông đă dày công nghiên cứu sửa đổi, sáng tạo thêm từ môn Nhu thuật (Jujitsu) cổ truyền, và cũng từ đó kiếm đạo bắt đầu thâm nhập vào học đường. Đến năm 1912, cùng với Nhu đạo, Kiếm đạo được chính thức đưa vào chương trình huấn luyện thể dục ở bậc Trung học áp dụng trên toàn nước Nhật.Tìm hiểu Văn hoá Nhật Bản nói chung và kiếm đạo nói riêng chắc chắn bạn sẽ không thể bỏ qua cái mốc quan trọng đó.

bate0712
02/09/2010, 10:19
Quyền Anh
Môn quyền Anh có lịch sử rất lâu đời. Khoảng 3700 năm trước công nguyên, ở xứ Mésopotamie (cổ Hy Lạp) đã lưu hành môn đấu quyền, thuỷ tổ của môn quyền Anh ngày nay.

Khởi nguồn

Có một thời gian môn quyền Anh bị suy vị, mãi đến năm 1750 trước CN mới thịnh hành trở lại. Bấy giờ, vào những ngày nghỉ ngơi nhất định, đều tổ chức thi đấu với sự tham dự đông đảo của mọi tầng lớp. Đương thời, Hy Lạp phát triển khá mạnh mẽ những cuộc thi đấu quyền, thậm chí còn cho phép các đối thủ được phép mang thêm dây da hoặc dây sắt vào tay để hạ đối thủ nhanh hơn, bởi luật thi đấu lúc đó là đấu đến khi nào có một người không thể tiếp tục đấu nữa mới thôi.

Đến năm 746 trước CN, sau khi La Mã tiêu diệt Hy Lạ, môn đấu quyền cũng truyền theo đến La Mã với sự hưởng ứng nhiệt tình của tầng lớp thanh niên. Tuy nhiên, do sự phát triển môn đấu quyền ngày càng đi sâu vào sự tàn nhẫn, nên đến năm 404 trước Công nguyên, hoàng đế La Mã là Theodosius đệ nhất đã ra lệnh cấm hẳn môn đấu quyền.

Mãi đến thế kỷ 16, môn đấu quyền xa xưa của Hy lạp - La Mã đã trở thành một hoạt động ưa chuộng của giới trung lưu và thượng lưu ở Anh quốc trong phong trào phục hưng. James đã trở nên bá chủ môn đấu quyền ở Anh sau khi đánh bại tất cả những danh thủ sừng sỏ khác ở Anh quốc, và là người đầu tiên mở trường dạy môn đấu quyền. Sau đó, một nhà vô địch người Anh thế hệ nối tiếp là Jack Broughton đã đi xa hơn, ông mở trường dạy đấu quyền, phát minh ra đôi găng tay để giảm bớt tai nạn trong thi đấu, lập ra qui tắc đấu quyền mang tính thể thao hơn. Đến năm 1865, một hầu tước người Anh là Queens Beery Vlll lại cải tiến qui tắc đấu quyền thành một qui tắc mang tính tài tử là: chỉ đấu ba hiệp, mỗi hiệp ba phút, thay vì đấu mười sáu hiệp như qui tắc Broughton ( Sau này qui tắc Broughton trở thành luật thi đấu quyền Anh nhà nghề và qui tắc Berry trở thành luật thi đấu quyền Anh tài tử).Từ đó, môn quyền Anh đã lan toả đến nhiều vùng đất khác trên hành tinh.

Năm 1881, Hiệp Hội Quốc Tế Quyền Anh Tài Tử ra đời, tạo cơ hội cho môn quyền Anh phát triển rộng rãi hơn. Vào năm 1904, Thế vận hội lần thứ ba đã chính thức đưa môn quyền Anh vào các môn thi đấu thế vận.

Kỹ thuật của môn quyền Anh

Môn quyền Anh ngày nay phát triển trên toàn thế giới, nổi tiếng với kỹ thuật chỉ sử dụng đôi tay với ba đòn chính là đấm thẳng( direct), móc ngang (crochet hay cross) và móc lên (upper cut ), cộng kỹ thuật sử dụng hai chân di chuyển kết hợp với sự tránh né của thân thể, đầu ... mà có khả năng tự vệ tương đối hữu hiệu cũng như gây không ít khó khăn cho môn sinh những phái võ khác.

Ngoài ra, luật thi đấu môn quyền Anh chỉ cho phép người võ sĩ đánh vào khu vực phía trước mặt và từ trên thắt lưng trở lên, buộc người tập môn quyền Anh càng khổ luyện hơn nhằm giành được ưu thế trong thi đấu cũng như trong tự vệ.

Phương pháp tập luyện môn quyền Anh gồm: tập đòn căn bản, luyện các môn bổ trợ ( nhảy dây, đánh bao, đánh banh, chạy bộ, hít đất... ), đấu luyện và song đấu tự do. Chỉ có những người sẵn tính kiên trì cộng với lòng đam mê môn quyền Anh thì mới có thể theo đuổi môn võ này đến cùng, bởi phương pháp tập luyện của môn quyền Anh tương đối khắc nghiệt.

Vậy kỹ thuật của môn quyền Anh hấp dẫn ở chổ nào? Có thể nói ngay rằng môn quyền Anh, do chỉ sử dụng ba đòn tấn công là ba đòn tay nên người tập được luyện cho đôi tay đánh thật nhanh và thật mạnh vào những điểm yếu trên vùng cơ thể cho phép đánh, song song với kỹ thuật gạt đỡ, tránh né, nhập nội chắc chắn và nhanh nhẹn như chớp, tất cả sẽ làm cho đối thủ luống cuống , không kịp đỡ và chỉ cần một đòn tay trúng đích là có thể hạ đối thủ rồi. Trước năm 1975, những trận đấu giữa các võ sĩ quyền Anh cùng với các võ sĩ Thiếu Lâm hay Bình Định trên võ đài khắp nơi đã chứng minh điều này rất hùng hồn. Một võ sư quyền Anh nổi tiếng là Kid Demsey thời ấy đã làm cho các võ sư Thiếu Lâm và Bình Định như : Cao Thành Sang, Tiểu La Thành, Nguyễn Trầm... phải thất bại chua cay trong bao trận võ đài thách đấu.

Môn quyền Anh ở Việt Nam:

Người Pháp đã mang môn quyền Anh đến Việt Nam. Tại Sài Gòn vào những năm 1925, môn quyền Anh bắt đầu xuất hiện giữa những lính viễn chinh Pháp lan dần ra giới thanh niên qua những lần thi đấu võ đài. Phải chờ đến những năm bước vào thế chiến thứ hai thì môn quyền Anh mới phát triển rộng rãi hơn và bắt đầu có những giải vô địch . Những người Việt Nam nổi tiếng trong các giải vô địch quyền Anh toàn Đông Dương có thể kể như : võ sĩ Muôn, Văn Phát ( tức Kid Demsey), Minh Cảnh...

Sau năm 1954, môn quyền Anh được phục hồi trong tổ chức Tổng cục Quyền Thuật Việt Nam, từng cử võ sĩ tham dự thi đấu giải Sea Games nhiều lần. Tuy nhiên, chỉ có một Phan Thiện Tư tức Minh Thành con(anh của Phan Văn Sáu, Phan Văn Mười) là đạt được huy chương đồng mà thôi. Ngoài ra, có thể kể thêm Nguyễn Sang, là võ sĩ duy nhất của Nam Việt Nam đạt huy chương đồng trong giải quyền Anh quân đội Châu Á. Dù vậy, môn quyền Anh vẫn tồn tại ,với số lượng người tập luyện tương đối hạn chế và giải vô địch tổ chức hàng năm chung với giải vô địch võ tự do.

vovinam_tieutu
24/09/2010, 22:18
Đường lang quyền (Praying Mantis) môn võ mô phỏng theo động tác 2 chân trước của bọ ngựa-chia thành hai chi phái không có mối liên hệ về lịch sử:
Bắc phái tại tỉnh Sơn Đông
Nam phái tại tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây.
Hiện nay còn có tân Đường Lang Quyền
. Bắc phái Đường Lang Quyền:Theo truyền thuyết được Vương Lang sáng lập vào thế kỉ 17 tại Sơn Đông. Tuy có chính tức xác nhận thời gian vùa nêu nhưng hệ phả không được rõ ràng cho đến thế hệ danh sư cận đại. Bắc phái Đường Lang Quyền có 3 chi phái là
-Mai hoa Đường Lang Quyền thịnh hành nhất tại Sơn Đông. Chi phái này bắt nguồn từ Lương Học Hương (bắt đầu dạy võ khoảng năm 1900) . Từ 4 người học trò của ông là: "Tôn Nguyên Xương, Hác Như Liên, Khương Hóa Long, Lương Trung Xuyên " đã phát triển ra niều nhóm khác.
Hác Như Liên đổi tên là Thái Cực Mai Hoa Đường Lang.
Tôn Nguyên Xương đổi thành Thái Cực Đường Lang; môn này do Triệu Trúc Khê (1898-1991) đưa vào Việt Nam.
Đệ tử của Khương Hóa Long là Lý Côn Sơn (1895-1980) mang Mai Hoa Đường Lang sang Đài Loan nhưng cải danh thành Thất Tinh Đường Lang. Về sau Khương Hóa Long (1 trong 4 đệ tử của Lương Học Hương) phối hợp Mai Hoa Đương lang với Bát Quái Chưởng, Hình ý Quyền và Thông Bối quyền để hình thành Bát Bộ Đường Lang.
Riêng Lương Trung Xuyên vẫn giữ nguyên tên cũ nhưng sau này Vương Đình Tùng (thuộc dòng họ ông) đã kết hợp với Trường Quyền để sáng lập Trường Quyền Đường Lang. Môn này được phổ biến rộng rãi tại Đài Loan. Truyền nhân được biết đến nhiều nhất la Lao Đạo Sinh.
-Chi phái thứ nhì là Thất Tinh Đường Lang đựơc La Quang Ngọc (1888-1944) phổ biến tại Thượng Hải Tinh Võ Hội, gốc tù Vương Vinh Sinh (1854-1926) hiện bành trướng tại Sơn Đông, quảng Đông, Hồng Kông và Châu Mỹ.
Hoàng Hoán Huân, học trò của La Quang Ngọc có viết hơn 20 quyển sách, đong góp tài liệu cho việc nghiên cứu chi phái này. Theo chúng tôi nghĩ môn này và Mai Hoa Đường Lang cùng 1 gốc vì đồn thế và lý thuyết đều giống nhau.
-Cuối cùng là Lục Hợp Đường Lang Quyền, 1 môn bắt nguồn từ Ngụy Đức Lâm, Trương Tường Tam và Lưu Vân Tiêu (1909-1992) mang môn này đến Đài Loan. Tuy đòn thế khác hẳn với những chi phái nêu trên nhưng vẫn tự nhận là cũng 1 gốc với Vương Lang.
Tất cả nhưng chi phái trên đều sử dụng nguyên lý Tiệt và Niêm. Võ sinh dùng 2 tay như 2 chân trước con bọ ngựa để tiềp đòn tấn công của địch thủ lúc mới phát , dính tay đối thủ để tạo sơ hở và phản công. Noi chung bắc phái Đường Lang đánh rông hơn nam phái Đường Lang và chỉ dùng eo thân để phát lực.
. Nam phái Đường Lang Quyền gồm 2 chi phái thịnh hành ở Quảng Đông.
-Châu Gia Đường Lang theo truyền thuyết là do Chấu Á Nam sáng lập. Về sau chia ra 2 nhóm la Châu Gia và Chu Gia. Môn này có 1 thời chỉ được truyền trong giới người Khách Gia (Hakka, hay người Hẹ) .
-Trúc Lâm Đường Lang do nhà sư Tam Đạt Sáng tạo tại chùa Trúc Lâm (Quảng Tây) . Châu Gia và Trúc Lâm có Lý thuyết và đòn thế rất giống nhau nên chúng tôi nghĩ rằng có sự quan hệ lịch sử giữa 2 môn.
Nam phái Đường Lang chuyên dùng đòn ngắn, áp dụng nguyên tắc "Phù Trâm Thôn Thổ "để phát lực.
. Tân Đường Lang Quyền là môn chỉ dang để biểu diễn , tấn pháp đứng rất thấp, mới được Vu Hải (sinh 1942) sáng chế . Ông là vân động viên Wusu là đệ tử của Thất tinh đường lang va Mai hoa đường lang, từng đóng phim Thiếu Lâm Tự và vài phim khác. Môn này được xem là môn thể thao hơn là quyền thuật.

vovinam_tieutu
25/09/2010, 09:53
Sự ra đời của 72 tuyệt kỹ Thiếu Lâm
Mùa thu năm 1333, vào đời vua Huệ Tôn (Thuận Ðế) niên hiệu Nguyễn Thông, đại hội võ thuật Thiếu Lâm được tổ chức, không phải để biểu diễn võ công , mà để chỉnh lý tài liệu võ thuật. Các tài liệu này chưa có sự hệ thống cụ thể, các môn đồ truyền dạy võ công theo sử trường, sở thích của mình mà không tuân theo một trật tự thống nhất nào cả. Yêu cầu đặt ra là cần phải có một bộ tài liệu võ thuật Thiếu Lâm hoàn chỉnh, chứa đựng những tuyệt kỹ , đặc trưng của môn phái, đồng thời có thể coi đó là bộ giáo trình quy chuẩn của võ thuật Thiếu Lâm.Triệu tập đại hội do sư trưởng đời thứ 12- Nguyên Hạnh thiền sư - chủ trì. Suốt hai tháng bàn luận sôi nổi, gần 700 đại diện võ phái Thiếu Lâm đã đưa ra nhiều ý kiến khác nhau. Phần cuối đại hội có hướng sang một nội dung là: các võ sư địa phương, các cao thủ đưa ra những môn tu luyện mới lạ từ sau ngày Tổ sư viên tịch, mà các môn này đã được các sư trưởng tiền nhân cứu xét và chấp nhận đặc cách vào danh sách võ công Thiếu Lâm, không một lý do nào lại không tu luyện nếu mình cảm thấy có sở trường ăn khớp với môn đó. Sau gần nửa tháng tiếp tục bế tắc, đại hội chưa tìm ra phương pháp thích đáng thì Nguyên Nhiên môn đồ của Thiếu Lâm đưa ra ý kiến là phải tập những võ công căn bản, sau đó ai có thiên tài gì tùy ý luyện riêng, ý kiến này được chấp nhận. Sau khi tổng kết lại thì ngoài 5 pho sách do tổ sư lưu truyền, số sáng tác sau này có cả ngàn thứ khác nhau, được xếp thành 72 loại. 72 môn loại này được thiên hạ truyền thành danh là 72 tuyệt kỹ, danh từ đặc biệt của Thiếu Lâm gọi là "Thất thập nhị nghệ".

Chỉ cần luyện thành công một trong 72 tuyệt kỹ này cũng đủ căn bản ra thành lập một võ phái,

Nội dung 72 tuyệt kỹ Thiếu Lâm gồm có:

1.Nhất chỉ kim cương pháp
2.Túc xạ công
3.Cáp mô công
4.Bạt đinh công
5.Bao thụ công
6.Tứ đoạn công
7.Nhất chỉ thiền công
8.Thiết đầu công
9.Thiết bố sam
10.Bài đả công
11.Thiết tảo trửu
12.Trúc diệp thủ
13.Ngô công khiêu
14.Ðề thiên cân
15.Tiên nhân chưởng
16.Cương nhu pháp
17.Chu sa chưởng
18.Ngọa hổ công
19.Tù thủy công
20.Thiên cân sạp
21. Kim chung trạo
22.Tỏa chỉ công
23.La hán công
24.Bích hổ du tường công
25.Tiên kình công
26.Tỳ bà công
27.Lưu tinh trang
28.Mai hoa trang
29.Thạch toả công
30.Thiết tý công
31.Ðàn tử quyền
32.Nhu cốt công
33.Song toả công
34.Xuyên liêm công
35.Ưng trảo công
36.Thiết ngưu công
37.Ưng dực công
38.Dương quang thủ
39.Môn đáng công
40.Thiết đại công
41.Yết Ðế công
42.Quy bối công
43.Thoản tung thuật
44.Khiêu dược pháp
45.Thiết tát công
46.Khinh thân thuật
47.Ma sáp thuật
48.Thạch trang công
49.Thiết sa chưởng
50.Nhất tuyến xuyên
51.Hấp âm công
52.Thương đao bất nhập pháp
53.Phi hành công
54.Ngũ độc thù
55.Phân thủy công
56.Phi thiềm tẩu bích thuật.
57.Phiênđằng công
58.Bá mộc trang
59.Bá Vương trửu
60.Niêm hoa công
61.Bài sơn chưởng
62. Mã yên công
63.Ngọc đới công
64.Âm quyền công
65.Sa bao công
66.Ðiểm thạch công
67.Bạt sơn công
68.Ðường lang trảo
69.Bố đại công
70.Quan âm chưởng
71. Thượng quán công
72. Hợp bàn công.

vovinam_tieutu
25/09/2010, 10:10
Thiếu Lâm thất thập nhị huyền công, Thất thập nhị huyền công niên tuyệt kĩ, hay 72 tuyệt kĩ Thiếu Lâm, 72 công phu Thiếu Lâm Tự, Thiếu Lâm Thất Thập Nhị Nghệ là số lượng các tuyệt kĩ được các võ sư nhiều đời của Thiếu Lâm tự đúc kết, tinh lọc, tổng hợp và phân loại, theo đó hệ thống võ học Thiếu Lâm phái hay Thiếu Lâm danh gia dù có phương pháp luyện tập đặc biệt nào cũng không ra ngoài 72 tuyệt kĩ này.

Con số 72 (Địa sát) trong lí luận Triết học Trung Hoa là bội số của số 9, cũng như con số 36 (Thiên cương) hay 108 là tổng hợp của cả 72 và 36, được sử dụng trong nhiều hệ thống võ học khác nhau nhằm xác định số lượng đòn thế, chiêu thức trong một bài sáo lộ (quyền thảo, binh khí) hay các đòn thế tuyệt kĩ. Bởi vậy, trong thực tế thất thập nhị huyền công cũng có thể được chỉ một hệ thống khác hẳn, như hệ thống các phép biến hóa của nhân vật huyền thoại Tôn Ngộ Không trong Tây du kí, hay sử dụng để chỉ 72 thế công thủ phản biến trong Thập bát La Hán quyền của môn phái do võ sư Đoàn Tâm Ảnh Việt Nam giảng dạy, là các chiêu thức giúp các võ sinh tự vệ một cách hữu hiệu. Chính vì sự đa dạng của thuật ngữ như vậy, khi bàn về hệ thống thất nhập nhị huyền công với tư cách là những công phu của Thiếu Lâm tự, người ta thường gọi cụ thể bằng chữ "Thiếu Lâm thất thập nhị huyền công", hay "72 tuyệt kĩ Thiếu Lâm tự".

Trong lịch sử võ thuật Thiếu Lâm (Tung Sơn, Hà Nam) tương truyền rằng vào thời Tống Mạt Nguyên Sơ có nhà sư Giác Viễn Thượng Nhân đã từ bài quyền La Hán Thập Bát Thủ nghĩa là 18 thế tay của phật A-la hán chế tác ra Thiếu Lâm thất thập nhị quyền pháp (người Trung Hoa dịch sang tiếng Anh là 72 Types of Shaolin) là 72 thế quyền căn bản của Thiếu Lâm.

Không nên lầm lẫn Thiếu Lâm thất thập nhị huyền công (người Trung Hoa dịch sang tiếng Anh là 72 Arst of Shaolin) với Thiếu Lâm thất thập nhị quyền pháp do Giác Viễn sáng tác.

Cũng nên lưu ý rằng trong võ Thiếu Lâm không hề có thập bát La Hán quyền (18 đường La Hán quyền) như đã được truyền tụng lâu nay trong giới võ thuật tại Trung Hoa và các nước Đông Á mà chỉ có bài quyền La Hán Thập Bát Thủ tương truyền từ Đạt Ma và La Hán quyền mà thôi.

Bài thập bát La Hán quyền chỉ có ở Việt Nam do võ sư Đoàn Tâm Ảnh (tức bác Sáu) sáng tác vào những năm thập kỉ 1960 và đây không phải là bài quyền chính thống trong môn võ Thiếu Lâm xưa nay.

Đặc điểm:
Thiếu lâm thất thập nhị huyền công là những kĩ pháp đặc biệt khó luyện, đòi hỏi hàng chục năm mới đạt mức thành tựu trung bình. Võ sư chỉ am hiểu được 1, 2 tuyệt kĩ đã có thể sáng lập một môn phái. Trong lịch sử chùa Thiếu Lâm, chỉ có một người đạt được 7 tuyệt kĩ đã vang danh là kì nhân thiên hạ. Thất thập nhị huyền công Thiếu Lâm được phân chia thành nhiều dạng: nhuyễn công, ngạnh công, nội công, ngoại công và tập hợp thành các nhóm khác nhau gồm:

Các bí quyết luyện chỉ lực (luyện ngón tay)
Các bí quyết luyện chưởng (luyện lòng bàn tay hay cạnh tay)
Các bí quyết luyện khinh công và phi hành (luyện chạy nhanh, nhảy cao, lướt trên mặt nước)
Các bí quyết luyện thiết quyền và thiết tí (luyện nắm đấm, sức mạnh của cánh tay v.v.)
Các bí quyết luyện thiết cước và thiên cân trụy (luyện đòn chân)
Các bí quyết luyện những công phu đặc dị (như đầu cứng như sắt, cơ thể nhu nhuyễn, thu hạ bộ vào khoang bụng v.v.)

Trong danh sách dưới đây những tên in đậm và có đánh số trong ngoặc là theo thứ tự và kèm theo tên bính âm của môn đó từ tài liệu khác bằng tiếng Anh tựa là 72 Arts of Shaolin của Kim Cảnh Chung đã đến chùa Thiếu Lâm (Tung Sơn) diện kiến phỏng vấn phương trượng Diệu Hưng vào năm 1920, Diệu Hưng vốn là đệ tử của Nam viện cho nên các tài liệu từ Tây viện và Đông viện sau này xuất bản tại Trung Quốc có khác một chút nhưng cũng đều là công phu chân truyền chính tông từ Tung Sơn Thiếu Lâm Tự, do vậy còn có kèm theo những tên gọi khác trong danh sách dưới đây.

1.Thiết tí công (cánh tay sắt) (30) (cánh tay sắt): Khởi đầu dùng cánh tay đập vào các gốc cây, sau tăng lên đập vào đá. Phải có thuốc ngâm tẩm đặc biệt để tập.
2.Bài đả công (10) Cầm miếng gỗ tự đánh vào thân mình.
3.Thiết tảo công hay Thiết tảo trửu – Tie Sao Zhou Gong (11) (chổi sắt quét): Luyện chân với các đòn cước quét (tảo địa). Khởi đầu bằng đứng Trung bình tấn, sau luyện chân (tảo địa cước) quét vào các gốc cây.
4.Túc xạ công (3) (bắn bằng chân) : dùng ngón chân và ức bàn chân đá vào những viên đá mỗi ngày từ viên nhỏ cho đến tảng đá to bắn tung lên về phía trước.
5.Cước thích công còn có tên gọi khác là Thoái thích công : môn này thật ra là một phần trong môn Túc xạ công, thay vì đá vào những viên đá thì thay bằng túi cát từ nhẹ đến nặng và từ nhỏ đến lớn cho đến khi có thể đá tung bao cát nặng từ 100 kg trở lên. Môn này luyện phải mất đến 10-15 năm thì công phu cáo thành.
6.Đồng sa chưởng, tên phổ biến hơn gọi là Trúc Diệp Thủ Công (12) (tay lá trúc) hay Trúc diệp chưởng, gần giống Thiết sa chưởng. Dùng túi vải cho cát sắt vào rồi treo lên đánh bàn tay vào mỗi ngày từ nhẹ đến nặng (tăng trọng lượng bao cát lên.
7.Xà hành thuật (13) còn gọi là Ngô Công Khiêu – Wu Gong Tiao (Ngô Công: con rết, Khiêu: nhảy) : cách tập là hít đất bằng tay và chân rồi nhảy lên bằng cả 2 tay và 2 chân rồi đáp xuống đất, luyện lâu ngày có thể luyện các ngón tay và ngón chân cho cứng.
8.Đề thiên cân (14) (nhấc ngàn cân), hay Thiên cân trụy: Trụ tấn nâng vật nặng. Luyện từ thế Trung bình tấn, hai tay nâng vật nặng lên trời giống như nâng tạ bằng các ngón tay. Môn này luyện thủ trảo (ngón tay) là chính gồm 3 ngón tay: ngón cái, ngón trỏ và ngón giữa.
9.La hán công (23) (công phu La Hán) : là cách tập nhãn lực nhìn ban đêm bằng cách thiền và tập trung nhìn vào ánh trăng, đèn lồng lâu ngày và massage vùng mắt.
10.Thiết đầu công (8) (đầu sắt), còn gọi là Thạch đầu công (đầu đá): Luyện húc đầu vào vật cứng. Lúc mới luyện phải quấn vải quanh đầu rồi húc vào tường với lực nhẹ, từ từ tăng dần lực và sau nhiều ngày thì tháo mảnh vải ra. Món này phải có thuốc không thì nguy hiểm tính mạng.
11.Tứ đoạn công – Si Duan Gong (6) (bốn đoạn) là công phu nội ngoại (luyện thở và gân cốt) như Bát Đoạn Cẩm và Dịch Cân Kinh Thiếu Lâm giúp tăng cường thể chất, cường kiện thân thể, tăng tuổi thọ và tránh bệnh tật.
Đoạn 1: Thác Thiên Đề Địa Lí Tam Tiêu (đỡ Trời nâng Đất điều chỉnh Tam Tiêu). Theo Đông Y học Cổ truyền Trung hoa, Tam Tiêu bao gồm: Thượng Tiêu là khu vực phía trên hoành cách mô gồm Tâm (tim) và Phế (Phổi), Trung Tiêu là khu vực nằm dưới hoành cách mô gồm Tì và Vị (khu vực dạ dày, lá lách), Hạ Tiêu là khu vực gồm Tiểu Trường (ruột non), Thận, Bàng Quang (bọng ***).
Theo quan niệm y học cổ truyền Trung hoa, kinh Tam Tiêu là khu vực sản sinh năng lực sống cho cơ thể cho nên điều trị bệnh hay làm cường thân kiện thể trước nhất cần đả thông kinh Tam Tiêu nghĩa là tiêu trừ bệnh tật tại tạng phủ trước. Trong võ thuật Thiếu Lâm, muốn luyện bất cứ môn công phu nào trước tiên phải luyện công đả thông khí huyết cho kinh Tam Tiêu trước thì khi luyện các môn công phu mới mang lại hiệu quả lâu dài. Vì dụ như một người luyện công phu quyền cước giỏi các môn nội ngoại công, ngạnh công nhưng chỉ một cơn bệnh tiêu chảy có thể làm tiêu tan khí lực và khí huyết trong cơ thể thì bao nhiêu công phu cũng không thể phát huy tác dụng.
Đoạn 2: Ngũ Lao Thất Thương Vãng Hậu Tiều (quay ra sau nhìn để trừ năm điều mệt nhọc, bảy điều thương tổn). Theo y học cổ truyền Trung Hoa, trong tác phẩm Hoàng Đế Nội Kinh Tố Vấn có trình bày về phương pháp trường sinh bất lão qua cuộc trò chuyện giữa vị Hoàng Đế đầu tiên trong lịch sử Trung hoa và Kì Bá như sau:
“ Ngày xưa, Hoàng Đế khi sinh ra đã có tính thần linh, tuổi còn nhỏ đã biết nói, còn bé đã xử lí mọi việc nhanh nhẹn và chu đáo. Khi lớn lên, tính tình ông đôn hậu, minh mẫn. Khi thành nhân ông được lên ngôi vua.
Có lần Hoàng Đế hỏi Thiên Sư (Kì Bá) rằng : “Ta nghe rằng người thì thượng cổ tuổi tác có đến trăm tuổi mà động tác vẫn không suy yếu, người thì nay tuổi mới nửa trăm mà động tác đều suy yếu. Đó là vì thì thế khác nhau ư ? Hay là con người sắp mất đi (sự hòa điệu Âm Dương)?
Kì Bá đáp : “ Người thì thượng cổ đều biết đạo dưỡng, họ bắt chước theo lẽ (biến hóa) của Âm Dương, hòa hợp được với thuật luyện tinh khí, Ăn uống có điều độ, thức ngủ theo lẽ thường, không lao động mệt nhọc một cách cẩu thả, do đó hình thể và thần khí của họ đầy đủ để có thể sống trọn tuổi trời, trăm tuổi mới chết.
Người thì nay thì không thế, họ lấy rượu làm thứ uống, lấy sự cẩu thả làm lẽ thường, say sưa rồi giao hợp, lấy sắc dục làm cho tinh khí bị hao kiệt, hao tổn đến chân khí, họ không biết giữ vững cái chén đầy, không theo đúng sự thay đổi khí tiết bốn mùa để bảo dưỡng tinh thần, họ chỉ muốn làm cho khoái cái tâm, làm nghịch lại cái vui chân thực, họ thức ngủ không điều độ, do đó mà tuổi mới nửa trăm thì đã suy yếu vậy.
Ôi ! Thì thượng cổ, bậc thánh nhân dạy người dân dưới mình, (muốn cho họ) đều phải rõ về (tai hại) của hư tà, tặc phong, muốn cho họ tùy theo thì tiết mà tránh tà khí, phải giữ lòng điềm đạm, hư vô, phải sống đúng với chân khí mình. Tinh thần có giữ được bên trong thì bệnh làm sao có thể đến được?
Được vậy thì chí sẽ nhàn mà ít ham muốn, tâm được an mà không sợ sệt, hình thể nhọc nhằn mà không mệt mỏi. Khí được theo với lẽ thuận, mọi việc theo đúng ý muốn của mình và đều được toại nguyện.
Nhờ vậy mọi người được ăn ngon, mặc theo ý muốn, vui với tập tục nơi mình sống.
Kẻ ở vùng cao hay thấp không ham muốn cái gì ngoài nơi của mình ở.
Nhờ vậy, ta gọi người dân này là “phúc”.
Nhờ vậy, sự ham muốn không làm mắt bị mệt, điều dâm tà không làm Tâm bị mê hoặc.
Tất cả kẻ ngu, bậc trí, bậc hiền, người đúng đắn không bị ngoại vật làm cho kinh sợ.
Cho nên, ta gọi đó là hợp với Đạo….”
Cho nên người luyện công mà tinh thần luôn trong trạng thái mệt mỏi lo âu, lao tâm khổ tứ do làm việc quá mức mà không biết điều hòa sinh hoạt thì hao tổn chân khí thì khi luyện công cũng khó mà luyện được. Trước khi luyện công cần phải để tinh thần sung túc không được hao tổn tinh thần do làm việc nhiều quá.
Đoạn 3: Thôi Song Vọng Nguyệt Khử Tâm Hỏa (hai tay đẩy cửa sổ nhìn Trăng để khử Tâm Hỏa)
Đoạn 4: Chiêu Không Đả Không Lực Bất Lao (chộp khoảng không đánh khoảng không để luyện sức không mệt nhọc)
1.Thiết bố sam công (9) (áo giáp sắt): Luyện vai, ngực, lưng cho thành cứng như sắt, không luyện bụng. Khởi luyện bằng cách xoa toàn thân, nằm trên vật cứng. Sau tăng lên bằng các bài tập phi lưng, ngực, vai v.v. lên cát. Tương truyền công phu này do một thiền sư Tây Tạng truyền cho Thiếu Lâm tự và rất được ngưỡng mộ. Hoặc đào hố cát mịn chừng 0.33 m rồi nắm 2 tay trên xà ngang thả rơi mình xuống hố cát sao cho thân mình, ngực, bụng, vai, lưng rơi chạm xuống cát. Trước khi luyện như vậy nên quấn vải thân mình rồi xoa mạnh vào thân mình.
2.Song tỏa công (2) (hai khóa) : dùng 2 cẳng tay (Kiều thủ) đập vào nhau rồi chà xát và nhau, phương pháp này không tạo sự chai cứng và tổn thương nhiều cho da thịt, luyện lâu ngày cánh tay sẽ có cứng có mềm và bên trong có lực.
3.Thượng quán công (71) (quán là cái hũ): Phép luyện huyền lực (lực treo) và sức nắm của cánh tay. Xỏ hũ vào một cái cây. hai tay để ngang nắm hai đầu cây xách hũ đựng vật nặng rồi xoay 2 bàn tay và cổ tay cho cuộn dây thừng cuốn vào thanh cây cuộn hũ lên rồi lại thả xuống. Ngón nghề này tập về Cầm Nã thủ. Nhiều khi môn đồ còn bị cắm dao bên sườn để luyện không cho hạ tay xuống khi mỏi.
4.Thạch tỏa công (29) (khóa đá) : là khối tạ bằng đá có quai xách để tập sức mạnh cánh tay (Kiều thủ).
5.Thiết châu đại hay Thiết chu đại (40) (bao sắt đựng đá) hay Thiết đới công : Cách luyện lực ở nách, dùng để quăng quật đối thủ. Cách luyện dùng bao cát tung lên chụp giữa 2 người, lâu ngày tăng dần trọng lượng bao lên. Ban đầu chụp phía trước, sau dần chụp phía sau và bên phải bên trái.
6.Thiên cân sạp hay Thiên cân áp (20) (cánh cổng ngàn cân), gần tương tự Đề thiên cân là tập nâng vật nặng, khác một chút là vật nâng là tảng đá lớn treo lên lơ lửng trên 2 thân cột như cái đập ở cửa sông nên gọi là sạp hay áp (đập ngăn cửa sông).
7.Tiên kình pháp (kình lực roi) (25) (kình lực roi) : luyện Kiều thủ (2 cánh tay và 2 cẳng tay) bằng cách kéo xà đơn nâng người lên mỗi ngày, luyện lâu ngày sẽ có 2 cánh tay mạnh mẽ. Sau đó cột 2 bao cát qua ròng rọc với thanh gỗ ngang và dùng 2 cẳng tay đè thanh gỗ xuống để nâng 2 bao cát lên.
8.Phân thủy công (55) (rẽ nước): Luyện sức hai tay rẽ. Thường dùng cây mây, cây song loại lớn đóng thành màn, sau đó dùng hai tay vẹt sang hai bên.
9.Ngọc đới công (63) (thắt lưng ngọc), còn gọi là Càn khôn khuyên: Công phu chuyên luyện cho hai cánh tay có sức mạnh xiết vòng lại, có thể ôm xiết người đến gãy xương mà chết. Thường luyện bằng cách ôm xiết khối đá nặng hình trụ và nhấc lên. Phương pháp này gần giống với Bao thụ công (5) (ôm cây) bằng cách luyện sức xiết của vòng tay vào thân cây và cố gắng nhổ lên. Ban đầu tập cây nhỏ sau tăng dần thân cây to lớn làm rung cành lá.
10.Ưng dực công (37) (cánh ưng): Là công phu dùng cùi chỏ hạ thủ, thuộc loại ngạnh công. Treo hai bao cát hai bên tăng dần độ nặng, luyện đánh chỏ ngang. Công phu này hơn Điểm thạch công một bậc về độ công phá mục tiêu cứng.
11.Siêu (Khiêu) việt pháp – hay Khiêu Dược Công (46) : mang bao chì hoặc bao cát vào thân rồi tập nhảy lên miệng hố hay miệng giếng, khi nhảy không được cong đầu gối hay co người lại.
12.Bá Vương trửu (59) (khuỷu tay Bá Vương): Cũng luyện cùi chỏ như Ưng dực công nhưng khác về cách luyện, nằm sấp hoặc ngửa chống chỏ xuống, người nhô lên hạ xuống. Sau có thể đặt thêm vật nặng lên người để tập. Ban đầu tập trên nền đất, sau từ từ lên nền đá, nền sỏi đá nên cùi chỏ ban đầu sẽ bị tổn thương cần có thuốc xoa bóp thêm. Luyện 6 năm thì công phu đại thành.
13.Nhất chỉ kim cương pháp (1) (một ngón tay), còn gọi là Nhất dương chỉ: Gần giống Nhất chỉ thiền, nhưng Nhất chỉ thiền thiên về âm công, phóng ngón tay đả thương địch từ xa, còn Nhất chỉ kim cương pháp thiên về luyện dương cương. Dùng ngón tay trỏ đâm vào tường, đá, thân cây, … nhiều ngày, có thể gây rách da chảy máu trong thời gian đầu mới luyện. Phương pháp này xỉa ngón trỏ vào vật cứng cho nên mới gọi là luyện dương cương.
14.Bạt đinh công (4) (nhổ đinh): Luyện chỉ lực (lực ngón tay nhổ bàn đinh).
15.Nhất chỉ thiền công (7) (phóng một ngón tay): Là loại âm công cực độc. Người luyện thành thì khi phát ngón tay chưa tới mà địch thủ đã bị thương, ở cấp thấp thì ngón tay cứng như dùi sắt. Dùng ngón tay trỏ xỉa vào vật nặng treo lơ lửng nên không có lực phản chấn gây nội thương và do tính chất nhu chuyển của vật nặng treo mà gọi là luyện âm nhu. Sau dùng ngọn nến đốt lên xỉa cho đến khi tắt ngọn nến. cuối cùng dùng giấy rồi kính thủy tinh bao quanh ngọn nến xỉa cho đến khi tắt ngọn nến. Ngón nghề này phải luyện trên 10 năm mới cáo thành công phu.
16.Thạch trang công (tấn vững như đá) hay Thạch trụ công: đứng Trung bình tấn càng lâu càng tốt với 2 phiến đá tảng lớn nặng đặt trên 2 đùi, sau luyện trên cọc (Mai hoa trang).
17.Kim chung tráo hay Kim chung trạo (21) (chuông vàng úp) : dùng vài thô quấn cục thành quả chùy rồi đánh vào thân mình mọi bộ vị, lúc đầu thấy đau sau dần không thấy đau thì thay bằng chùy gỗ, rồi chùy đồng. Sau 6-8 năm thì công phu cáo thành.
18.Thiết ngưu công (36) (trâu sắt) : Đầu tiên xuống Trung bình tấn dùng ngón tay và bàn tay đánh vào bụng đồng thời dồn hơi xuống chịu lực rồi xoa mặt bụng. Sau thời gian không thấy đau thì dùng chùy gỗ rồi chùy sắt đánh vào. Sau cùng, đặt vật nặng trước bụng, nằm ngửa để luyện cứng bụng.Môn này có chỗ gần giống môn công phu Qui Bối Công (42) luyện tập sức chịu đựng ở vùng lưng và 2 bên thắt lưng, dùng tay xoa vùng thắt lưng và lưng 360 vòng thuận nghịch (720 vòng) rồi dùng tay ấn và đánh vào, lâu ngày có thể dùng vật cứng như búa nhỏ gõ vào, bình thường khi không tập luyện thì nằm lưng trên vật cứng để tập sức chịu lực.
19.Toàn phong chưởng tên gọi phổ biến là Châu sa chưởng (17), còn gọi là Hồng sa chưởng, Mai Hoa chưởng: Thuộc loại âm công tối độc, đứng hàng đầu trong các loại âm công. Khi phát chưởng không cần chạm tay địch thủ đã bị thương trí mạng. Luyện bằng cách khuấy cát trong chậu vuốt lên khiến cho cát bay lên theo vòng xoáy như gió lốc, sau nâng dần độ khó bằng mạt sắt và bi nhỏ, khi tập chưởng lực, chưởng ra gió lốc. người trúng chưởng sẽ có một lồng khí xâm nhập và đi khắp cơ thể, gây loạn khí mà chết.
20.Ngọa hổ công (18) (hổ nằm): Công phu dương lực chuyên luyện đầu ngón tay và cả đầu ngón chân theo cách chống các ngón tay chân hít đất. Có thể đặt vật nặng lên lưng để tập.
21.Bạt sơn công (67) (bạt núi): Thuộc loại công phu dương kình. Luyện bằng cách dùng các ngón tay nhấc trụ cây sắt chôn dưới đất sâu từ 1 – 2m rồi nhổ lên, trong khi nhổ không được lay lắc. Luyện lâu ngày chôn thân cây càng sâu thì công phu càng thâm hậu
22.Kim long thủ còn gọi là Hợp bàn chưởng (72) : Luyện sức mạnh bàn tay có thể làm tan sắt đá bằng cách xoa hai đầu bó đũa tre, tập tuần tự đến khi xoa nhẹ cái thì bó đũa nát ra, sau đó xoa đũa sắt cho đến khi bó đũa mỏng đi và dài ra.

vovinam_tieutu
25/09/2010, 10:13
23.Thôi sơn công còn gọi là Thôi sơn chưởng (61) : Công phu luyện lực phát kình tại chưởng tâm (giữa lòng bàn tay) và cổ tay tương tự Phùng chỉ công. Luyện bằng cách đặt tay đẩy khối đá nặng trên mặt bàn tăng dần cho đến khi khoảng 200 kg rồi tập lại từ đầu đánh chưởng mạnh vào khối đá. Công phu này mất khoảng 15 năm mới đại thành.
24.Thích mộc trang còn gọi là Thích trang công, tên khác là Bách Thụ Trang (58) : cách luyện dùng một thân cây tròn chôn sâu xuống đất và dùng chân (đầu ngòn chân, cạnh bàn chân, gót bàn chân, ức bàn chân) đá vào thân cây mỗi ngày, mỗi ngày tập 3 lần (sáng, trưa, chiều tối), mỗi lần đá mỗi chân từ 200 – 500 lần. Sau cùng thay thân cây bằng thân cây to hơn rồi đến những phiến đá tảng lớn từ 100 – 500 kg thì công phu đã đại thành. Lúc mới tập chân hay bị đau thì ngưng hết đau rồi tập tiếp từ nhẹ đến nặng từ yếu đến mạnh dần.
25.Ưng trảo công (35) hay Ưng trảo lực (vuốt ưng, luyện các ngón) : môn này giai đoạn đầu luyện dương cương giống Đề thiên cân dùng ngón tay cái, ngón trỏ và ngón giữa bấu vào vật nặng nhấc lên (bình to chứa cát như cổ và miệng bình nhỏ). Sau cùng chuyển sang luyện âm nhu dùng tay không bóp mặt trăng, mặt trời, chim bay, …
26.Trảm ma kiếm còn có tên khác Quan Âm chưởng (70): cách luyện dùng cạnh bàn tay chém xuống thanh gỗ trong 6 năm đến khi miếng gỗ từ chỗ mòn đến tách ra làm đôi, sau đó thay bằng đá xanh thêm 5 năm như vậy nữa. Cuối cùng dùng thùng sắt cho mạt sắt vào và chém xuống mặt thùng nhưng không chạm mạt sắt khoảng 8 năm đến khi chém xuống mạt sắt bị lõm xuống như đậu hũ và phải duy trì thêm 1 năm như vậy nữa thì cáo thành nhưng vẫn phải tiếp tục duy trì công phu.
27.Huyền không quyền còn có tên khác là Âm quyền công (64) : cách luyện hàng ngày vào giờ Tí (lúc 0 giờ - 2 giờ sáng) dùng 2 tay đấm thẳng xuống miệng giếng khoảng 300 quyền, đánh khoảng 15 năm thì giếng sẽ phát ra âm vang, đánh 30 năm thì nước giếng văng lên tung tóe do kình lực đi xuống tận đáy giếng. Mỗi buổi sáng sớm thức dậy đánh khoảng 500 quyền mỗi tay (tổng cộng 1000) về phía mặt trời, buổi tối đánh khoảng 500 quyền mỗi tay về phía mặt trăng (nếu không có mặt trăng thì đánh vào ngọn nến để cách xa 1-2m giống như công phu Dương Quang Thủ (38) là phép tập quyền đả cách không với mục tiêu mà cách luyện là đấm vào ngọn nến mỗi ngày, mỗi lần đấm khoảng 500 – 3000 quyền. Trung bình mỗi ngày đánh khoảng 2000 – 3000 quyền trong 30 năm thì âm kình sẽ vô cùng khủng khiếp. Phương pháp tập này có ưu điểm không gây sang chấn thương cơ thể do không chạm vào vật cứng mà uy lực cũng không kém các môn dương cương đánh vào vật cứng.
28.Kim sa chưởng còn có tên khác là Ma Sáp Thuật (50) : cách luyện như sau, mỗi sáng sớm mặt quay về hướng Đông miệng ngậm cho lưỡi chạm nóc vòm miệng rồi dùng 2 bàn tay xoa vào nhau 20 lần. Kế tiếp một tay để trước bụng và ngực trong khi tay kia để sau lưng xoa đều 50 lần sau đó đổi tay, trong khi xoa không được thở ra bằng miệng mà cần phải ngậm hơi dồn khí xuống đan điền. Sau đó dùng một hộp hay chậu cho đậu, gạo vào đầy rồi dùng 2 bàn tay xỉa thẳng xuống khoảng 1000 lần cho đến khi tăng lên 4000 lần mỗi tay một ngày trong 3 năm. Thay hạt bắp (kê) thì xỉa 5000 lần mỗi ngày trong 1 năm, thay cát thì xỉa 6000 lần mỗi ngày trong 1 năm rưỡi, thay mạt sắt thì xỉa 10 000 lần mỗi ngày cho đến khi xỉa tay xuống tận đáy cát thì công phu cáo thành. Độ dày của hạt đậu, gạo, kê, mạt sắt là 40 cm.
29.Thiết sa chưởng (47) (chưởng sắt), loại công phu chuyên luyện chưởng thịnh hành trong Thiếu Lâm thuộc Bắc phái chính tông. Cách luyện dùng đậu xanh và hạt tiêu nghiền nát thành bột rồi cho vào bao, đặt bao lên tấm gỗ phía trước mặt, đứng thế Mã bộ (Trung bình tấn) rồi dùng chưởng sấp ngửa buông lỏng cổ tay, cùi chỏ, vai đánh nhẹ xuống từ nhẹ đến mạnh mỗi tay khoảng 1000 cái cho đến 4000 cái trong vòng 3 năm. Sau đó dùng dấm 2500gr, nhân trung bạch 5000gr, bạch lạp 5000gr dùng lửa nhỏ luyện 3 nén nhang, luyện 4 lần cho đến khi cô đặc lại rồi cho vào chảo sắt trộn với cát trộn đều, lượng thuốc và cát bằng nhau rồi cho vào bao tập đánh như trên trong 3 năm, sau đó luyện thêm 6 năm mỗi tay đánh 10000 cái trong một ngày và duy trì vĩnh viễn. Đây là loại công phu ngoài âm trong dương, có đủ uy lực âm dương, khi đánh ra mềm mại và chỉ phát kình khi chạm mục tiêu, khi phát kình các khớp phải buông lỏng cho nên uy lực rất lớn và biến hóa.
30.Phi hành công (53) (đi như bay), còn gọi là Dạ hành thuật : thuật đi đêm, một loại khinh công. Yêu cầu tập cả sự nhanh nhạy và luyện mắt tinh tường. Cách luyện dùng một tấm áo giáp sắt bên trong đeo chì rồi tập chạy ngày đêm, mỗi lần tập trung bình là 1 giờ rưỡi. Mỗi lần tập luyện chạy khoảng 20 dặm cho đến khi thời gian rút ngắn chỉ còn 30 phút, 10 dặm còn 20 phút với 40 kg túi cát hay chì trên người là thành công. Đến khi bỏ túi chì, cát ra thì thuật phi hành nhanh như gió lốc. Môn này giống môn Lục địa phi hành thuật hay Thần hành thuật là môn luyện chạy trên các địa hình không bằng phẳng nghĩa là mức độ khó hơn.
31.Thương đao bất nhập pháp (52) (thương đao chẳng vào) hay còn gọi là Thiểm tị thuật, còn gọi là Không thủ nhập bách nhẫn (tay không vào rừng đao kiếm nhọn): luyện mắt thật nhanh nhạy bằng cách đếm nhanh các vật, sau đó luyện chạy trong rừng tre và chạy giữa vài chục người cầm binh khí tấn công. Tương truyền do Trần thị thuộc đời Tống ở đất Trân Châu sáng chế sau này không thấy còn người nào thời nay luyện môn này nữa.
32.Ngũ độc truy sa chưởng tên phổ biến hơn là Ngũ độc thủ (54): vào tiết thanh minh lấy 10 cân bùn dưới đáy giếng cho vào cái ang, ngày 5 tháng 5 âm lịch bắt 1 con rắn đỏ, 1 con thạch sùng, 1 con rết, 1 con cóc, 1 con nhện, và 5 cân mạt sắt, 5 lít dấm trắng, 5 cân rượu trắng, 1 cân thanh đồng sao trộn tất cả vào trong bùn rồi cho vào bao vải để lên miếng ván gỗ mà đánh chưởng (bàn tay) cho đến khi dập nát thì làm bao khác, mỗi lần tập đánh 400 cái mỗi tay cho đến khi mỗi ngày đánh được 40 ngàn lần trong 6-8 năm và về sau mỗi khi luyện thì ngâm rượu thuốc tẩm tay.
33.Phi đảm tẩu pháp hay Phi thiềm tẩu bích (56) (bay trên mái, chạy trên vách): Thuật luyện chạy nhanh, nhảy cao, thân nhẹ. Mang bao cát trên thân người và 2 tay khoảng 20 kg tập nhảy chạy lên tường, mới tập chỉ được 1-2 bước, luyện lâu ngày đến 4-5 bước, sau 2-3 năm có thể được 8-10 bước thì bỏ cát ra có thể chạy lên tường được.
34.Nhất tuyến xuyên (48) (xuyên một đường) còn gọi là Đạt Ma độ giang, Đạt Ma độ thủy, Thủy thượng phi hay Thuật phi hành trên mặt nước : giống như phép luyện Khinh thân thuật, nhưng giai đoạn cuối cùng dùng một sợi dây giăng ngang trên cao rồi chạy lên, sợi dây được theo trình tự từ to đến nhỏ dần đến khi nhỏ như sợi chỉ. Môn này luyện trên 10 năm mới có thể đại thành.
35.Thoán tung thuật hay Thoán túng thuật (43) (nhảy ngược) : dùng chì nấu với tiết lợn xong rồi chôn xuống đất 49 để khử độc tố trong chì, sau đó cho chì vào bao đeo lên người tập chạy lên dốc cao, kế đến đeo chì chạy trên miệng lu (ang) có đầy nước sau đổ hết nước ra mà chạy trên miệng lu vẫn không lật đổ lu. Sau cùng xếp gạch đứng lên 2-3 tầng rồi nhảy lên chạy mà không làm đổ gạch rồi tập nhảy búng người lên mà không co người hay co gối. Luyện khoảng 8 năm thì thành công, nếu thẳng người có thể nhảy lên mái nhà 2-3 thước, co người có thể nhảy cao lên hơn 5-6 thước. Đây là công phu nhảy cao của Thiếu Lâm.
36.Kim sản chỉ tên gọi khác phổ biến hơn là Tiên Nhân Chưởng (15) : Luyện chỉ lực, dùng ngũ chỉ (năm ngón tay khép lại thành chưởng) tập xỉa vào tường, đá, gỗ, …
37.Yết Đế công (41) (nhào lộn kiểu Yết Đế) hay Giải địa công (41) : thuật nhào lộn dưới đất.
38.Mai hoa trang (28) (cọc hoa mai), còn gọi là Mai hoa thung: Chuyên luyện tấn pháp và bộ pháp trên các cọc đóng thành 5 cái một thành hình hoa mai. Tăng dần chiều cao của cọc và độ khó của bài bằng cách thi đấu, biểu diễn quyền và binh khí trên cọc.
39.Niêm hoa công (60) (hái hoa): Luyện dương lực ở hai đầu ngón tay cái và ngón tay trỏ để bấu, véo, điểm. Luyện bằng cách hai ngón tay vê bóp các hạt đậu tiến tới hạt cát, sắt. Khi vê bi sắt mà làm méo, bẹp là đại thành.
40.Đường lang trảo (68) (trảo bọ ngựa) hay Đường lang quyền , tên chính xác nhất là Đường Lang Chưởng: cách luyện dùng khoảng 5 viên gạch chồng lên nhau, phía trên cùng có đệm lớp giấy dầy 3 phân và chém cạnh bàn tay từ trên xuống cho đến khi vỡ gạch (trong vòng 1 năm rưỡi), khi chém xuống lưu ý các ngón tay phải hướng lên trên. Sau đó dựng đứng viên ngói và chém viên ngói vỡ mà vẫn không bay đi hay đổ xuống. Cuối cùng dùng đá xanh để luyện tập cho đến khi chém vỡ viên đá xanh.
41.Bao bản công gần giống với Phi Thiềm Tẩu Bích: để 2 miếng ván nghiêng dốc 25 độ 2 bên cột cao rồi đeo túi cát, chì chạy lên trong 6 tháng, sau đó tăng độ dốc lên 45 độ trong nửa năm, kế tiếp tăng lên độ dốc 70 độ trong 1 năm, 85 độ trong vòng 3 năm cho đến khi dốc thẳng đứng 90 độ mà vẫn chạy như không thì công phu cáo thành. Số lượng cát tăng dần từ 10kg đến 20kg, mỗi lần chạy khoảng 500 lần, mỗi ngày 3 lần trong liên tiếp 3 năm. Tập cho đến khi 10 năm công phu thì công phu cáo thành. Khi bỏ cát ra thì chạy như bay lên vách như dưới đất bằng.
42.Thiểm chiến pháp (tập né tránh), tên phổ biến là Sa bao công (65) (đánh rừng bao cát) : lúc đầu treo 2 bao cát nặng khoảng 2-3 kg sau tăng 10kg, dần dần tăng 4, 6, 10, … 20 bao cát đánh thật nhanh và né tránh thật nhanh không cho bao cát trúng vào người do đánh văng đi, tập khoảng 6 năm thì công phu cáo thành.
43.Kim đao hoàn chưởng công : luyện công phu cạnh bàn tay chém vào phiến đá. Môn này cách luyện gần giống môn Mã Án Công – Ma An Gong (62) : dùng tay (chân ) đánh (đấm đá) vào phiến đá tảng to bằng kích thước bộ yên cương cưỡi ngựa mỗi ngày.
44.Khinh thân thuật còn gọi là Cân thân thuật (44)(thân nhẹ), Đề khí thuật hay Khinh thân công, Khinh công: Luyện thân thể nhẹ nhàng. Luyện ban đầu bằng cách chạy trên thành chum đựng nước, sau bỏ nước dần dần rồi đến rổ mây đựng cát và lần lần bỏ cát vơi dần đến hết. Cuối cùng chạy trên nền cát cho đến khi linh hoạt đến mức cát không bị tung lên, chân không để lại dấu.
45.Thiết tất công (45) (gối sắt), còn gọi là Thiết tất cái: Phép luyện đầu gối cứng như sắt thép. Tập bằng cách dùng quyền đấm vào hai đầu gối khi ngồi xếp bằng. Sau tăng lên dùng sức của búa.
46.Lục địa phi hành thuật tên phổ biến là Thần hành thuật cách luyện y hệt như Phi hành công nhưng tập luyện khó hơn bằng cách chạy trên các địa hình mấp mô không bằng phẳng và dốc lên xuống, băng qua các hố cao, rộng và sâu …
47.Xuyên liêm công (34) (xuyên rèm): Công phu gần giống Phi thiềm tẩu bích. Công phu này mô phỏng động tác chim yến bay qua màn cửa, dùng để nhảy qua chướng ngại vật, nhiều môn sinh Sơn Đông mãi võ chuyên biểu diễn nhảy chui qua vòng lửa hay vòng gắn dao nhọn, chính là công phu này.
48.Lăng lí toản 淩(đi xuyên qua nước) còn gọi là Phiên Ba Lăng (xoay trở trong nước) còn có tên là Tù Thủy thuật (19) (Tù Thủy Thuật hay Du Thủy Thuật) : là phương pháp luyện bơi lội và luyện quyền cước khi ngâm mình dưới nước.
49.Điểm thạch công (66) (luyện tay điểm vào đá): Loại dương công chuyên luyện đầu ngón tay để đánh điểm vào thân thể đối thủ rất nguy hiểm, thuộc hàng tử thủ nhưng khác với Nhất chỉ thiền là loại âm công tác xạ từ xa. Dùng đầu ngón tay điểm vào tường đá để tập. Môn này giống Nhất Chỉ Kim Cương pháp và Nhất Chỉ Thiền Công (một ngón trỏ) nhưng khác là dùng 2 ngón (ngón trỏ và ngón giữa). Cách luyện ngay từ đầu vẽ vòng tròn lên tường gạch (36 vòng) và điểm cho đến khi lõm vào. Luyện khoảng 3 năm là có thể điểm 1 lần là lõm tường.
50.Tì bà công (26) (gảy đàn tỳ bà), còn gọi là Đàn chỉ thần công: Luyện búng ngón tay như búng dây đàn. Phải ngâm thang thuốc đặc biệt trộn vào bao cát để tập. Khi tập thành ngón tay trở nên đen huyền do thấm thuốc.
51.Nhu cốt công (32) (xương mềm): Luyện cho toàn thân nhu nhuyễn, các khớp xương thông hoạt, tránh sự cứng nhắc. Khởi luyện bằng cách hất chân các hướng, kế đến luyện Triều thiên đăng tức đưa chân tới trước ngực rồi ôm sát vô ngực trong khi chân kia vẫn đứng thẳng, sau đó luyện eo bằng cách tư thế uốn, gập.
52.Bích hổ du tường thuật (24) (thằn lằn leo tường), còn gọi là Bà tường công: Là loại công phu chuyên bò sát mặt tường thẳng đứng mà đi lên. Lúc ban đầu mới luyện thì dựng bức tường dốc nghiêng 45 độ và tăng dần đến 90 độ, tứ chi ban đầu mỗi chi mang 0.5 kg cho đến 10kg, thời gian tổng luyện là 25 năm công phu chia làm 5 lần thời kì tăng sức nặng bao cát mỗi thời kì là 5 năm.
53.Môn đáng công (39) (luyện hạ bộ) môn này còn có tên là Kim Thiền công (Kim Thiền là ve sầu vàng thoát xác) : luyện sức chịu đựng của những đòn tấn công vào hạ bộ, tập trung khí vào hai bìu dái trở nên cứng như sắt.Môn này gần giống công phu Hấp Âm Công (49) còn có tên là Liêu Âm Côn hay Đồng Tử Công là phương pháp tập hít cho 2 hòn dái thâu vào ổ bụng tránh lực công phá của đối phương. Môn này muốn luyện phải từ thiếu niên và vĩnh viễn chưa từng giao hợp với phụ nữ.
54.Phân đằng thuật (57) hay Phân đằng công (lật lăng): Luyện khinh thân (thân nhẹ) để có thể lên xuống bất cứ chỗ nào, cách luyện có thể bao hàm cả những kĩ năng nhào lộn. Cách luyện ban đầu ngã người về phía trước sau nhào lộn, sau dần nhào lộn trên xà đơn, cuối cùng di chuyển trên những sợi dây treo và tung mình trên không nhào lộn.
55.Bố đại công (69): Không liên quan gì đến khái niệm túi vải (bố đại) mà đây là tên của một Thiền sư Trung Quốc sống vào khoảng thế kỉ thứ 10 theo truyền thuyết là hiện thân của phật Di Lặc hay đeo trên mình túi vải, đây là công phu chuyên luyện bụng. Cách luyện ngồi tĩnh thân luyện khí (hít thở) rồi dùng 2 tay xoa bụng 36 lần theo chiều kim đồng hồ rồi ngược lại (72 lần), mỗi ngày xoa 4 lần trong vòng 3 năm, sau đó dùng thân gỗ tròn treo trên không cho húc vào bụng từ nhẹ đến mạnh tăng dần trong vòng 6 năm. Lúc này công phu đã tiểu thành có thể chịu những cú đánh mạnh vào bụng. Nếu muốn chịu được giáo nhọn đâm vào phải mất toàn thành 15 năm.
56.Cáp mô công hay Hà mô công (33) (ếch) : dùng 2 cánh tay cầm 2 quả tạ lớn nâng lên cho đến khi nâng được cả trăm cân, bỏ tạ ra nâng nhấc tay không, sau cùng dùng tay (quyền) đánh vào người rồi từ từ thay bằng búa gỗ, chùy sắt, cuối cùng dùng đá nặng đè lên người và dùng côn đánh vào lưng, bụng, thân mình.
57.Thiên tằng chỉ công (đánh xuyên ngàn lớp) tên gọi khác là Cương Nhu Pháp (16) : treo những bó giấy buộc chặt bằng dây thừng vào các cạnh bàn cao khoảng hơn 1m rồi đánh mỗi ngày tăng dần trọng lượng bó giấy từ 10 kg đến 50 kg. Phương pháp này có cứng (cương) của bó giấy và có mềm (nhu) do được treo đong đưa cho nên không tạo lực chấn phản gây nội thương khi đánh vào. Đứng ở thế tấn Trung bình tấn (Mã bộ) hay Đinh tấn (Cung bộ) đấm vào từ 500 – 3000 quyền mỗi ngày trong vòng 9 năm. Khi đấm tay ra bộ pháp phải vững, cổ tay phải chắc và thẳng, lực phát ra từ eo, lưng và vai. Phương pháp này giống như công phu Lạc Tinh Trang hay Lưu Tinh Trang (27) bằng cách lấy trụ tre dùng để tập công phá mỗi ngày bằng tay (chưởng, quyền, chỉ, trảo), chân (cước), đầu, vai, mông.
58.Đàn tử quyền hay Đạn tử quyền (31) (quyền bật): Luyện công bằng cách gõ đầu khớp xương thứ hai, khi bàn tay co các ngón tay lại, vào các vật cứng như tường đá.
59.Tỏa chỉ công (22) (tay như móc khóa, khóa ngón): Luyện ngón tay nhưng không giống với công phu Điểm thạch hay Long trảo, mà tập khóa, bấu các đầu ngón tay vào nhau dùng để bấu, véo đối thủ. Cách luyện hàng ngày bấu véo vào miếng gỗ rồi đến sắt cho đến khi xuất hiện vết lõm.
60.Truy phong chưởng công : cách luyện mỗi buổi sáng thức giấc đứng Mã bộ (Trung bình tấn) mặt quay về hướng Đông dùng 2 tay luân phiên đẩy chưởng ra phía trước 1000 cái và tăng dần số lượng trong vòng 6 năm liên tục, kế tiếp dùng ngọn nến để cách xa 1 trượng cố gắng đẩy tắt nến với số lần từ ít đến nhiều, từ từ tăng khoảng cách ngọn nến lên 2-3 trượng với 40 000 lần mỗi ngày. Cuối cùng đặt quả cầu bông cách xa 1 trượng như trên và đẩy cho đến khi quả bông lăn xuống đất, tiếp tục tăng khoảng cách như trên thì công phu cáo thành, đến lúc này cách xa 3 bước có thể đánh ngã người. Cứ kiên trì tập như vậy trong vòng 30 năm thì cách 8 bước có thể đánh ngã người. Môn này rất khó luyện trăm người chỉ một người thành công nên cần kiên nhẫn. Môn này gần giống với Huyền Không quyền (còn có tên khác là Âm quyền công (64) và Dương Quang Thủ (38) là phép tập quyền đả cách không với mục tiêu mà cách luyện là đấm vào ngọn nến mỗi ngày, mỗi lần đấm khoảng 500 – 3000 quyền. Trung bình mỗi ngày đánh khoảng 2000 – 3000 quyền trong 30 năm thì âm kình sẽ vô cùng khủng khiếp. Phương pháp tập này có ưu điểm không gây sang chấn thương cơ thể do không chạm vào vật cứng mà uy lực cũng không kém các môn dương cương đánh vào vật cứng.
61.Nhuyễn huyền công : cách tập luyện rất đơn giản, không tốn chi phí, không bị sang chấn thương, cách luyện là mỗi ngày đứng Trung bình tấn đấm thẳng ra, hoặc chưởng hay trảo đánh thẳng ra mỗi tay nhiều ngàn lần. Môn này bản chất là tập phát kình trong Thiếu Lâm quyền, khi phát kình thì toàn thân buông lỏng và không được rung lắc. Tập luyện lâu ngày khí lực trong người gia tăng rất mạnh, huyết dịch tuần hoàn, thần thái tươi tốt. Đây là môn công phu cơ sở trong các môn Nội gia theo phương pháp tuyệt đối không dùng tay chân công phá vào vật cứng như các môn dương cương ở trên. Ưu điểm môn này không gây hậu quả nội thương và không cần thuốc xoa bóp hay uống trị thương.

vovinam_tieutu
10/01/2011, 21:35
1,Thái Tổ trường quyền

Lịch sử ghi chép rằng thưở thiếu thời Triệu Khuông Dẫn lúc còn chưa lên làm hoàng đế Trung Hoa sau này mở ra triều đại nhà Tống, ông đã từng lên Thiếu lâm tự để học tập võ thuật, và trở thành một quyền sư dạy võ thuật trong chùa Thiếu Lâm sau khi sáng tác ra Tam Thập Nhị Thế Trường Quyền (32 thế đánh của Thiếu Lâm Trường Quyền-Thích Kế quang ghi) mà sau này gọi là bài Thiếu Lâm Thái Tổ Trường Quyền.

Thái tổ trường quyền mang đặc trưng của Thiếu lâm bắc phái, đó là các chiêu thức rộng, khoáng đạt, đặc biệt chú trọng đến sự kết hợp mật thiết giữa nhãn pháp và thân pháp, khi đánh toát lên sự phóng khoáng, dũng mãnh.

Quyền pháp Thái tổ trường quyền chú trọng đến thực chiến, công thủ toàn diện, đi quyền nhanh như gió, xuất đòn tựa tia chớp, tay trước lãnh, tay sau nhanh chóng bắt kịp, thủ pháp luân chuyển liên hồi một mạch.

Trong quá trình luyện Thái tổ trường quyền, trước tiên phải tập kỹ cơ bản công của bài quyền này.Nội dung cơ bản công gồm “Tam hình”, “Ngũ công”, Tam hình là đầu, thủ(tay) và bộ(tấn), Ngũ công là cánh tay, cước, eo, trang và khí.Những nội dung này yêu cầu phải thực hiện thấu đáo, sát thực giữa lý thuyết và yếu lĩnh thực tế, bởi vì chúng có mối quan hệ tương hỗ,vừa bổ sung, vừa chế ước nhau.

Tham khảo Thái tổ trường quyền tại link sau:
http://v.ku6.com/show/Rbn9sXPDn1aorB9c.html


2,Pháo quyền

Thiếu lâm pháo quyền được thiền sư Phúc Cư sáng tác dựa trên “Thập bát gia đoản đả”, sau đó hoàn chỉnh thành bài quyền vào thời nhà Tống. Trong “Pháo quyền La vương truyện ca quyết” có đại ý ghi rằng:”Pháo quyền như một tinh hoa quyền thuật của Thiếu lâm, mỗi chiêu thức như thông thiên địa; thủ, thân,bộ pháp dũng mãnh như gió cuốn, quyền đánh như xuất pháo, thân uyển chuyển tựa giao long...”

Thiếu lâm pháo quyền là một trong những bài quyền cổ điển và thuộc một trong Thập đại danh quyền của Thiếu lâm tự. Các động tác của bài quyền được thực hiện liên hoàn, tên của chúng cũng mang ý nghĩa đặc biệt như: Truy phong pháo, Ngọa tâm pháo, Phi vân pháo, Liên hoàn pháo, Nghênh diện pháo, Thông thiên pháo...

Bài quyền này khi luyện yêu cầu: Nội khí luôn sung mãn, ngoại hình phải uyển chuyển, tung thân nhanh lẹ, lạc địa cần phải nhẹ nhàng, đánh phải áp sát đối phương, quyền thủ tựa pháo. Khi luyện lâu rồi, quyền pháp như nã pháo, uy lực vô song.

Tham khảo Pháo quyền tại link sau:
http://v.ku6.com/show/L5F2_N14nfamSd3h.html



3,Tiểu Hồng Quyền

Tiểu hồng quyền là một trong những bài quyền cổ xưa và cơ bản nhất của phái Thiếu lâm, nó cũng được liệt vào danh sách một trong Thập đại danh quyền của môn phái.Bài quyền này là bắt buộc đối với bất kỳ ai theo tập Thiếu lâm quyền.Tứ bộ của Tiểu hồng quyền gồm có: Tịnh bộ, cung bộ, mã bộ, đốn bộ và hư bộ.Thủ hình bao gồm: quyền, ngũ hoa trảo.Thủ pháp có: thôi chưởng(đẩy chưởng), thương thủ (gạt tay), bản thủ (lật tay), trảm thủ(chặt tay), lượng thủ (vuốt tay), lán thủ (chặn tay)...Quyền pháp có: xung quyền(phóng quyền), phách quyền (chém quyền), liêu quyền (hất tay quyền), trát quyền (bổ quyền)...Cước pháp có: đá móc, đá bật..Thân pháp chú trọng đến chuyển thân, thu thân...Tư thế bài quyền thường nhỏ gọn, yêu cầu nhanh nhẹn, tiết tấu vừa phải, động tác chặt chẽ, có lực.Mỗi chiêu pháp của bài quyền đều mang hàm ý công thủ, chú trọng thực chiến, từ đầu đến khi kết thúc đều thực hiện trên một đường thẳng, thể hiện một trong những đặc điểm nổi bật của Thiếu lâm quyền.

Tham khảo Tiểu hồng quyền tại link sau:
http://video.sina.com.cn/v/b/33682510-1272053512.html#15443431

4, Lục hợp quyền

Thiếu lâm Lục hợp quyền hay còn gọi là Thiếu lâm Lục hợp thủ hoặc Thiếu lâm Lục hợp chùy, là một trong thập đại danh quyền của Thiếu lâm tự.Đây là bài quyền thường được diễn luyện bởi hai người, tập đối kháng, được coi là một trong những bài tập hướng dẫn cho các võ tăng sâu sát trong việc vận dụng quyền thuật Thiếu lâm vào thực chiến.

Thiếu lâm Lục hợp quyền là một minh chứng lý giải cách sử dụng “Lục hợp tiểu hồng chùy” (Tiểu hồng quyền) và “Thanh long xuất hải quyền” để phá giải đòn đánh của đối phương.Thiếu lâm Lục hợp quyền được chia thành 6 lộ, gọi là lục hợp bởi sự liên kết giữa Ngoại tam hợp và Nội tam hợp.Lộ 1 bao gồm 100 chiêu công thủ, lộ 2 gồm 68 chiêu công thủ, lộ 3 gồm 64 chiêu công thủ, lộ 4 gồm 76 chiêu công thủ, lộ 5 cũng gồm 76 chiêu công thủ, lộ 6 gồm 88 chiêu công thủ, tổng cộng có 472 chiêu tất cả.

Nội dung quan trọng của Lục hợp quyền là muốn đem lại cho người tập trong lúc luyện đối kháng có thể đạt được những thứ mà khi đơn luyện không thể dễ dàng có được, đó là khoảng cách về thời gian, cảm giác về cự ly, tốc độ, năng lực phản xạ...

Tương truyền, Lục hợp quyền do tục gia đệ tử “Thần thủ” Trương Cần – một vị võ tăng- vào cuối thời nhà Minh- đem truyền cho dân gian. Bài quyền này không được truyền bá ra bên ngoài nhiều là bởi vì qui định Thiếu lâm lục hợp thủ không được truyền ngoại, do đó mà các vị cao tăng khi nhận đệ tử cũng rât nghiêm khắc, chọn lọc kỹ lưỡng.Đệ tử được lựa chọn học nghệ thì cũng chỉ được sư phụ ngôn truyền thân thụ, khẩu truyền tâm thụ mà thôi.

Lục hợp quyền được coi là bảo vật trấn tự của môn phái Thiếu lâm, trải qua biết bao đời cao tăng tu luyện và hoàn thiện, ngày nay nó đã trở nên tinh diệu vô biên.
Bài quyền này có một số đặc điểm nổi bật sau:

Kết cấu chặt chẽ
Bài quyền từ khi khởi thức đến khi kết thúc có bố cục hết sức hợp lý, các động tác liên kết chặt chẽ, liên hoàn và rất rõ ràng.

Chiêu pháp tấn công mãnh liệt
Trong bài quyền, phàm là người xuất chiêu công thì một là mạnh, hai là liên tục; công phải mạnh thì mới phá được vậy.

Công thủ kiên cố
Mỗi một thế trong bài quyền đều bao gồm 2 chiêu, một dùng để công và một dùng để thủ, khi đánh thì phải lo phòng thủ.Người tập lâu sẽ có thể vận dụng linh hoạt, có lợi cho thực chiến.

Bộ pháp đơn giản, tiến thoái linh hoạt
Bộ pháp bài quyền khá đơn giản, phần nhiều sử dụng cung bộ, hư bộ và mã bộ.Cung bộ thường được dùng khi tấn công trực diện.

Dương đông kích tây
Bài quyền lưu ý đến việc sử dụng hư chiêu để mê dụ đối phương, đánh lạc hướng để có thời cơ công phá, như các thế “Lãng tử đàn cầu”, “Hồng hầu thụ thân” trong lộ 3.

Áp sát cận địch
Trong lộ 1 và lộ 3 của bài quyền đa phần áp dụng cách đánh áp sát đối phương nhằm công các chỗ hiểm yếu hoặc nắm bắt bố vị yếu hại nào đó.Điều này không những thể hiện việc vận dụng thấu đáo nhãn, thân, thủ pháp...mà còn là cách để kiểm chứng cách ứng dụng từng chiêu thức.


Tham khảo Lục hợp quyền tại link sau:
http://v.youku.com/v_show/id_XNTk4NzkxNjg=.html

5,Thất Tinh Quyền

Thiếu lâm Thất tinh quyền có các động tác nhỏ gọn , tinh túy, linh hoạt và đa biến, thể hiện một trong những đặc điểm của quyền thuật Thiếu lâm, đó là”quyền đánh nơi trâu nằm”.Bài quyền này được lưu truyền khá rộng rãi, khi luyện thì động như miêu, hành như hổ, chiếu với vị trí sao Thổ trung tâm trong vũ trụ. Bộ hình, bộ pháp của bài quyền khá độc đáo, hai chân tịnh bộ sát nhau, chân sau kế liền chân trước, tục gọi là tiểu thu thân. Kiểu bộ pháp này khi thực hiện cũng chính là cách để kiểm chứng mức độ uyên thâm của người luyện Thiếu lâm quyền.

Đặc điểm của bài quyền này là: thủ pháp lanh lợi, cước pháp biến đổi thần kỳ, thân pháp mau lẹ, khoáng đạt.Thủ, nhãn, thân, bộ, tinh, khí, thần hợp nhất, khí thế hùng dũng.


Tham khảo Thất tinh quyền tại link sau:
http://v.youku.com/v_show/id_XMTg4MTA4NTk2.html

6,Trường hộ tâm ý môn quyền

Thiếu lâm Trường hộ tâm ý môn quyền là một trong những bài quyền kinh điển của Thiếu lâm tự, một trong Thập đại danh quyền nổi tiếng.Bài quyền này chú trọng đến phương pháp kỹ kích, hướng nhiều đến thực chiến. Nội dung bài quyền phong phú, chiêu pháp đa dạng, được coi là một trong những bài quyền Thiếu lâm có nhiều động tác nhất. Trường hộ tâm ý môn quyền cương kiện có lực, yêu cầu sự vận dụng phối hợp chặt chẽ gữa động tác với khí.

Ngoài ra, bài quyền này có điểm không giống với các bài quyền khác, đó là sự thể hiện “Hồi thủ đới câu”, ‘Thân dĩ cổn nhi tiến, thủ dĩ cổn nhi xuất”, nghĩa là khi thu thủ thì chuyển câu, thân thủ tương tùy, phối hợp theo nhau.

Tham khảo Trường hộ tâm ý môn quyền tại link sau:
http://video.sina.com.cn/v/b/19288757-1558462375.html



7,Kim Cương quyền

Thiếu lâm Kim cương quyền là một trong những bài quyền công phu mức thượng thừa của Thiếu lâm tự, không hổ danh là một trong Thập đại danh quyền Thiếu lâm.Nội dung bài quyền lấy kỹ kích làm chủ, trường kích đoản đả, nhanh mạnh, biên hóa khôn lường, tay thủ sắc như tên, tiến thoái linh hoạt. Đặc điểm bài quyền nhấn mạnh đến luyện tập công pháp như : đỉnh công, miêu công, sa bao công, trang công, đôn công.Đồng thời, lưu ý đến sự vận dụng các tay quyền như: xung quyến, trát quyền, phiên quyền...

Bài quyền giúp người luyện có đôi tay cứng như thép, có thể công phá các vật cứng như gạch, ván gỗ, đá...thể hiện uy lực ra đòn trong thực chiến.


Tham khảo Kim cương quyền tại link sau:
http://v.ku6.com/show/6QNXsexruEts5gHj.html

8,La Hán Quyền

La hán quyền là một trong những bài quyền kungfu bí truyền của Thiếu lâm tự.Đặc điểm bài quyền thiên về kỹ kích, chiến đấu, có kết cấu chặt chẽ, giá thức hoàn chỉnh.

Tục truyền rằng, đời Lương, Đạt Ma sư tổ hành cước phương Nam, trú lại Thiếu Lâm tự, thấy tăng chúng yếu mệt rệu rã, Ngài phán: “Phật pháp tuy ở ngoài thân xác, nhưng muốn đạt được chân tu, trước hết thân xác phải khỏe mạnh, sau đó linh hồn mới dễ ngộ đạo". Ngài bèn dạy cho chúng đệ tử các thuật luyện công, trong đó có 18 phép luyện tập cường gân tráng cốt, gọi là Thập bát La Hán thủ - thủ pháp khai tông mà Đạt Ma truyền lại.

Đến thời nhà Kim, Bạch Ngọc Phong vào chùa Thiếu lâm tu luyện thành công Thập bát thủ, dung hòa và biến hóa thêm thành 118 thủ, tiến hiệu gọi là Tiên thiên La hán quyền nguyên thủy Thập bát thủ, còn 118 thủ nhà họ Bạch thì gọi là Hậu thiên La hán quyền. Cả hai hệ thống này sau được các võ tăng chỉnh biên lại, kết hợp với dáng dấp, hình dạng, biểu cảm của 18 La hán thành La hán quyền như ngày nay.

La hán quyền được chia thành hai loại chính: Tiểu la hán quyền và Đại la hán quyền với nhiệu lộ khác nhau.


Tham khảo La hán quyền tại link sau:
http://video.sina.com.cn/v/b/20343604-1609206405.html

9,Mai hoa quyền

Thiếu lâm mai hoa quyền là một trong những bài quyền đặc sắc của Thiếu lâm tự.Các động tác của bài quyền thư triển, phóng khoáng, kết cấu hoàn chỉnh, phong cách độc đáo, tiền xung hậu đả, động tác theo thân pháp lúc lên lúc xuống như sóng, biến hóa đa dạng, chiêu pháp liên hoàn, quyền lộ như cánh hoa mai nên được gọi là Mai hoa quyền.Bài quyền này thích hợp với những người đã có cơ sở về Thiếu lâm quyền.


Tham khảo Mai hoa quyền tại link sau:
http://v.ku6.com/show/ZxWA6AU8jidvHtt3.html

10, Thông tý quyền

Thiếu lâm Thông tý quyền là bài quyền được nhiều đời các vị cao tăng biên soạn, đúc kết, chỉnh lý hoàn thiện. Trong các động tác liên hoàn của quyền, chưởng, trừu (chỏ) và tý (cánh tay) thì chủ yếu lấy nguồn lực từ cánh tay, sau đó quán xuyến ra các thủ pháp trên.Bộ pháp của bài quyền bao gồm: cung bộ, mã bộ, phốc bộ, kết hợp với thôi chưởng, trát quyền, phách cước.Hệ thống Thông tý quyền được chia thành Đại thông tý quyền và Tiểu thông tý quyền.

Tham khảo Thông tý quyền tại link sau:
http://v.ku6.com/show/9qBap-XzhGcFheiQ.html