PDA

Xem phiên bản đầy đủ : Mãi mãi tuổi hai mươi



sweetie_cat88
01/08/2005, 10:01
oái
câu lạc bộ thơ ca mà không thấy bàn tán chút gì về cuốn sách này thì kể cũng hơi lạ kì hihi

sweetie_cat88
01/08/2005, 10:07
CHUYỆN ĐỜI bi tráng của một chàng trai giỏi văn nhất miền Bắc một thời...
Đó là một người đã đoạt giải nhất cuộc thi học sinh giỏi văn lớp 10 toan miền Bắc năm học 1969-1970. Nguyên là sinh viên suất sắc của trường Đại Học Tổng hợp Hà Nội, anh nhập ngũ vào cuối năm 1971, hy sinh tại chiến trường Quảng Trị năm 1972, khi chưa đầy mười tháng tuổi quân và 20 năm tuổi đời...
Người ấy là Nuyễn Văn Thạc!
Trong khi sưu tầm "Những lá thư và nhật lí thời chiến Việt Nam" để phục vụ cho việc biên soạn bộ sách cùng tên, tôi bất ngờ nhận được một tư liêuh quý do ông Nguyễn Văn THục - người anh trai của liệt sĩ, thay mặt gia đình chuyển đến. Đó là hàng trăm lá thư, cùng cuốn nhật kí day240 trang chép tay, của tác giả Nguyễn Văn Thạc mang tên "CHUYỆN ĐỜI".
Điều khiến chúng ta không khỏi ngạc nhiên là trong một số lá thư viết năm 1971 gửi cho bạn gái, Nguyễn Văn Thạc đã tiên cảm được ngày 30-4-1975.
Đọc những trang tư liệu trên, cuộc đời ngắn ngủi, nhưng đầy bi tráng của một trong những thanh niên ưu tú nhất Hà Nội đã dần được hé mở..

sweetie_cat88
01/08/2005, 10:08
1.

Nguyễn Văn Thạc sinh năm 1952 tại làng Bưởi, Hà Nội trong một gia đình thợ thủ công. Cha mẹ có xưởng dệt nhỏ, thuê người dệt áo len và áo sợi. Khi Mỹ gây chiến tranh phá hoại miền Bắc, cha mẹ cậu bé phải bán rẻ hết nhà cửa, xưởng máy, để sơ tán về quê tại xã Cổ Nhuế, huyện Từ Liêm. Hợp tác xã không có việc làm, nhà lại đông con (Thạc là con thứ 10 trong 14 anh em), tài sản gia đình nhanh chóng khánh kiệt. Ba mẹ Thạc phải đi cắt cỏ lấy tiền ăn.
Nhà nghèo, nên chú bé Thạc vừa đi học, vừa đi làm thêm giúp đỡ bố mẹ nuôi sống gia đình. Bù lại, Thạc học rất giỏi. Suốt 10 năm học phổ thông, cậu bé đều đạt loại học sinh giỏi Á ( giỏi toàn diện). Năm lớp 7, Thạc đoạt giải nhì (không có giải nhất) học sinh giỏi văn thành phố Hà Nội.
Khi gia đình sơ tán về quê ở Cổ Nhuế, Thạc học cấp III tại trường Yên Hòa B. Hằng ngày, anh phải đi bộ 4 cây số đến trường học, ngày nghỉ thì đi bộ hàng chục cây số đến thư viện Hà Nội để đọc sách. Vất vả, nhưng Thạc thông minh nên học giỏi đều tất cả các môn, anh đặc biệt có năng khiếu về môn Văn.
Với thành tích học tập kể trên, Thạc đã được ban tuyển sinh Hà Nội xếp vào diện đi đào tạo tại Liên Xô. Nhưng theo chủ trương chung, phần lớn những nam học sinh xuất sắc đó đều ở lại để tham gia quân đội.
Trong khi chờ gọi nhập ngũ, Thạc xin thi và đỗ vào khoa Toán - Cơ trường Đại Học Tổng Hợp Hà Nội. Vừa học năm thứ nhất, anh vừa tự học thêm để hoàn thành chương trình năm thứ 2 và được nhà trường đồng ý cho lên thằng học năm thứ 3...
Nhưng đó cũng là thời gian cuộc kháng chiến chống Mỹ đang bước sang giai đoạn mới. Chiến trường miền Nam ngày càng gay go và ác liệt. Hàng ngàn sinh viên các trường đại học phải tạm ngừng việc học tập, để bổ sung lực lượng chiến đáu cho quân đội. Nguyễn Văn Thạc đã nhập ngũ ngày 6-9-1971.

sweetie_cat88
01/08/2005, 10:09
2.

Trong một lá thư gửi cho gia đình đề ngày 19-9, Thạc viết: "Đơn vị con toàn sinh viên và cán bộ giảng dạy. Hình như có cả một sư đoàn sinh viên. Trường Tổng Hợp đi hơn 300 người, chia thành 3 đại đội. Con nghe nói sắp lấy thêm một số nữa (khoảng 3 trung đội) ở trường và tháng 11-1971 lại tiếp tục thêm một đợt..."
(Một chi tiết thú vị là: Trong số 300 sinh viên của trường Tổng Hợp Hà Nội cùng nhập ngũ một đợt với Thạc có cả nhà thơ Hoàng Nhuần Cầm. Sau này, trong nhật lí của mình, nhiều đoạn Nguyễn Văn Thcj có ghi chép và nhắc đến tác giả của " Xúc xắc mùa thu", với một tình cảm đặc biệt)
Họ được cấp tốc đưa đi huấn luyện chiến sĩ mới...Đay là một đoạn thư Thạc viết về cho bố mẹ taih xã Tân trung, huyện tân Yên, tỉnh Hà Bắc cũ ( nay thuộc huyện Bắc Giang)
"Sáu đứa chúng con được phân công vào một nhà. Gia đình chỉ có hai vợ chồng và bốn đứa con nhỏ. Cháu lớn nhất 7 tuổi. Khi chúng con vào nhà, các cháu đã ngủ yên, anh chị ra đón và tất bật suốt đêm dọn chỗ. Sáng ra, anh chị ở nhà dọn xuống nhà dưới, nhà trên, ba gian, cho sáu đứa chúng con.
Chị chủ còn trẻ, 28 tuổi. Rất tốt vì thương chúng con. Chị cho hai nải chuối và rất nhiều lạc để ăn sáng.Con cũng không ngờ nổi rằng gia đình lại phóng khoáng đến như vậy. Chúng con nhận luôn và bảo nhau là: Sẽ trả tiền bằng phương pháp riêng của bộ đôi.!
Anh chủ khoảng 32 tuổi gì đó, là giáo viên cấp I. Ở đây có điều đặc biệt là không uống chè, toàn nướ đun sôi, giản dị và lành mạnh. Anh không biết hút thuốc. Khong có bàn thờ. Không kiêng cấm gì cả. Chúng con rất thích thú.".
Tháng 4-1972, đơn vị của Thạc cùng lên đoàn tàu quân sự, hành quân vào chiến trường. Trong một trang nhật kí của mình anh viết:
" Vừa ao ước thế, vừa buồn vì mình đang ngồi ở đây, dưới trời mưa thanh thản, rồi sắp lên tàu đến Mỏ trạng, Yên Thế diễn tập. Nhưng ra ga, thì lính ồ lên phấn khởi, đầu tàu hướng về hà Nội - "Đi" rồi! Thế là nhất định vào trong ấy. Vội vàng viết thư - Tàu qua Cửa nam những cánh thư trắng bay ào ạt xuống đương - Gửi hộ nhé - Báo cho những người thân của chúng tôi rằng chúng tôi đã xa Hà Nội, lúc ấy là 12 giờ trưa 9.4.72"
Trang thư viết vội khi Thạc ngồi trên chuywsn tàu tròng trành lắc lư trên đường hành quân ra trận hôm đó được một người Thủ Đô nhặt được, nhiệt tình chuyển đến tận gia đình của Thạc.
Là người giỏi văn, nên Thạc viết thư cũng rất hay. Nhiều trang thư của anh thực sự là những đoạn văn với những cảm nhận tinh tế về cuộc sống: " Chân bước trên rơm thơm, khó ai định liệu được mình còn ao ước cuộc sống nào hơn thế nữa. Mặc dù hạnh phúc ấy mỏng manh như chính số người nhận ra cảm xúc ấy là hạnh phúc của cuộc đời...". Và " Cuộc sống của đất nước còn lam lũ lắm. Đầu tắt mặt tối mà nào có đủ miếng ăn. Rồi mất cắp. Rồi đánh chửi nhau. Rồi thiên tai, địch họa. Cơm độn ngô rồi còn độn sắn. Vậy mà những chiếc lá tre kia vẫn dịu dàng, vẫn đưa ta vào tận cõi êm ả của tâm hông. Thật lạ biết bao!"
Thạc cũng là người viết rất nhiềh thư. Anh tiết lộ, đã xó thời gian "...Phải nhờ bạn học cùng lớp viết thư trả lời. Có ngày tới 16 cái! một kỉ lục chưa ai phá nổi. Có lẽ chỉ có Lépnít, nhà bác học cả đời viết hàng vạn bức thư mới là địch thủ (!)" Chỉ riêng một người bạn gái, trong 4 tháng anh viết cho cô tới ..500 trang thư, có thư dày tới ..54 trang!
Đọc thue của Nguyễn Văn Thạc, ta không chỉ cảm nhận và khám phá được nhiều thú vị về cuộc sống và xã hội miền Bắc nước ta bước vào những năm 1966-1972; mà còn hiểu được được đời sống tâm tư, tình cảm của thế hệ thanh niên - chiến sĩ thời đó. Hình như anh viết thư không chỉ là thông tin tình cảm riêng cho bố mẹ, cho anh trai, hay cho bạn bè.. nà còn ấp ủ những tư tưởng và mơ ước lớn hơn nhiều. "Em muốn những trang thư là những dòng suy nghĩ về đời, về người, về cuộc sống, về những chân lí mà bất kì ai sống có trách nhiệm cũng phải suy nghĩ đến..." - Trong một lá thư gửi cho anh trai của minhg, Thạc đã viết như thế.
Đặc biệt trong một lá thư gửi người bạn gái thân thiết, Nguyễn Văn Thạc có dự cảm kì lạ: " Bất kì một sự vinh quang nào cũng cần phải trả giá bằng một giá. Và khó khăn gian khổ cang nhiều và thử thách càng nhiều, sự vinh quang đó càng trở nên rực rỡ. Chúng ta từng đi tìm những chân lí sâu xa đơn thuần qua những áng văn và những bài thơ và bài toán. 30-4-1975, T. sẽ trả lời cho P. câu: Hạnh phúc là gì?"...Bây giờ, thì hầu hét người dân Việt Nam và nhiều người khác trên thế giới mỗi khi nhắc đến ngày 30-4-1975 đều hiểu đó là ngày gì! Nhưng xin quí độc giả nhớ cho: Nguyễn Văn Thạc viết lá thư này từ ngày 18-9-1971, nghĩ là tận 4 năm sau mới tới ngày giải phóng miền nam, thống nhất đất nước 30-4-1975.. Nhờ đâu mà lời hẹn với bạn gái của anh như một sự tiên cảm kì diệu vậy?
Đọc lại nhúng lá thư Nguyễn Văn Thạc viết cho người bạn gái, ta phát hiện ra một đièu thú vị: không chỉ một lần anh nhắc đến ngày 30-4-1975. Thậm chí, trong một lá thư đề ngày 4-9-1971. Thạc còn "đính chính": " Như Anh nhớ nhầm rồi, Lan bảo ngày 30-4-1975 mới trả lời câu :"Hạnh phúc là gì" cơ mà, chứ có phải là ngày 11-4-1975 đâu?"

sweetie_cat88
01/08/2005, 10:11
3.

Ngày 2-10-1971, nghĩa là 28 bngays sau khi nhập ngũ. Nguyễn Văn Thạc đã ghi những dòng nhật lí đầu tiên: "Nhiều lúc mình cũng không ngờ nổi rằng mình đã đến đay. Không ngờ rằng trên mũ là một ngôi sao. Trên cổ là quân hàm đỏ. Cuộc đời bộ đội đến với mình tự nhiên quá".
Cho đến cuối tháng 5-1972, nghĩa là sau gần 7 tháng trời vừa huấn luyện, vừa hành quân vào mặt trận; mặc dù phải đi xa, đeo nặng, nhưng tranh thủ những giờ nghỉ, ngày nghỉ, thức khuya, dậy sớm... anh đã viết được 240 trang sổ tay.
Vậy Nguyễn Văn Thạc đã viết những gì trong cuốn sổ nêu trên?
Đây là quan niệm của anh về việc ghi nhật kí:
"Nếu những người viết Nhật Kí là viết cho mình, cho riêng mình đọc thì cuốn nhật kí đó sẽ chân thực nhất, sẽ bề bộn và sầm uất nhất - Người ta sẽ mạnh dạn ghi cả vào đấy những suy nghĩ tồi tệ nhất mà sự thức họ có. Nhưng nếu Nhật kí mà có thể có người xem nữa thì nó sẽ khác và khác nhiều - Họ không dám nói thật, nói đúng bản chất sự kiện xẩy ra trong ngày, không dám nói hết và đúng những suy nghĩ đã nẩy nở và thai nghén trong lòng họ. Mà chính đó là điều tối kị khi viết Nhật Ký - Nó sẽ dậy cho người viết tự lừa dối ngòi bút của mình, tự lừa dối lương tâm của mình - Tóm lại, tạo ra 2 con người.
Người ta viết Nhật Kí có rất nhiều phương pháp - Và mỗi người tùy theo ý thích và sự quen thuộc của mình mà ghi chép. Có người chỉ thích viết ý nghĩ, có người hoàn toàn ghi những sự kiện nhỏ nhặt xảy ra hàng ngày - Còn mình, mình không biết thế nào, có lẽ vừa ghi những sự kiện, vừa ghi những suy nghĩ, đâu là sự kiện - Và sự trộn lẫn ấy - là một điều rất quí (...) Việc rút ra những ý nghĩ từ trong hiện tượng ngay tức khắc có một tác dụng rất lớn lao - nó cho phép người ta tìm thấy và nắm chắc bản chất sự vật và không sa vào cái vụn vặt, không bị choáng trước những hình thức màu mè ở bên ngoài.
... Vấn đề chủ yếu vẫn là anh viết Nhật Kí để làm gì? Anh có lấy nhật kí làm người bạn đường nghiêm khắc và tốt bụng để đưa đường cho anh? Hay là anh lấy nhâtk kí làm đồ trang sức, làm một cái gì đó để khoe khoang. Hay tệ hơn, làm một cái bồ để trút vào đó những lời than thở, những suy nghĩ giả tạo, sống rất tồi, rất nghèo nàn mà cứ tưởng mình phong phú và bận rộn lắm với công việc hàng ngày..."
Và Nuyễn Văn Thạc đã ghi chép rất kỹ những điều mắt thấy tai nghe và cả những điều anh cảm nhận được. Đó là chuyện về gia đình những người dân nơi anh đóng quân, chuyện về những anh lính cùng đơn vị, về nhũng cán bộ chỉ huy tiểu đội, trung đội, trung đoàn...Có rất nhiều chuyện vui, nhưng cũng có cả những chuyện buồn: " Không ai muốn cuộc đời mình phải buồn bã cả, nhưng rất ít người trên đời này đạt được điều mình mong muốn. Mất mát nhiều, nhưng cố gắng làm sao cho mình khỏi thất vọng, khỏi mất nghị lực luôn hun cháy lòng mình. Đó mới là điều quan trọng" - Trong một trang sổ tay, Thạc đã viết như thế.
Là người học giỏi văn, nên không hiếm những đoạn Thạc ghi nhật kí mà như làm văn, với những cảm nhận tinh tế: "Mùa đông chưa về đến đây. Mình yêu cái chuyển tiếp giữa 2 mùa này, xốn xang trong lòng nhiều kỉ niệm. Cây sầu đông chưa mở ra nhũng mối sầu cho mình an ủi. Chùm quả chín vàng lấm tấm trên tà áo xanh của bầu trời, nhắc mình nhớ về cái ngõ hẹp vào nhà. Ao cô Tơ cong mọc trên làn nước chùm hoa lau cho tụi con trai đánh trận hay không? Mấy cây hồng ngày trước, đấy là nơi tụi trẻ bán hàng và đám cưới; cái dù vàng che cô dâu, chú rể, giờ tơi tả khắp bốn phương.
Kỉ niệm càng dâng lên và trào ra như nước mắt. Sáng lạnh chiều sương, gió táp, cây trên đồi chắc là buốt lắm, nằm nghĩ về những người thân yêu mà se thắt trái tim".
Về tác giả của "Xúc xắc mùa thu" nổi tiếng sau này, Nguyễn văn Thạc đã có những nhận xét thú vị, dự báo về một nhà thơ tài hoa trong tương lai:
" Cầm ( tức Hoàng Nhuận Cầm) viết được nhiều, quả thực ở nó có tài năng, hay ít ra đó cũng là một khả năng tốt. Khanh bảo Cầm nó chăm lắm, mặc dù sức khỏe ốm yếu. Mình nhớ dạo mới đi bộ đội, hay gặp Cầm lang thang trong đêm. Có lần đi gác, Cầm nó nămg ngủngay trên cài cầu xi măng bắc qua sông Tô Lịch. Nó bảo nó nằm nhớ lại dĩ vãng xa xưa của nó ở Kinh đo, đôi guốc mộc và cái quần chùng, hàn huyên với cái sư huynh bên quán nước.
Kể cũng lạ, ở nó có gì đán học đâu, ngoài những ý sáng tạo trong thơ. Cách sốn của nó hơi ngang tang và thiếu nghiêm túc. Nhưng vì sao nó nắm bắt mạch thơ đúng thế. Tưởng như lời nào của nó cũng là thơ vậy (!).
Giới thiệu bài hát, nó bảo : Mười con chim sơn ca nuôi trong cổ họn xin ca nhạc phẩm "Trường Sơn Đông - Trường Sơn tây" nhạc của (...)), lời Phạm Tiến Duật. Nhạc VIệt Nam được trộn pha ácjăngtin.. liến thoắng như cái máy mà hấp dẫn. Lúc ấy, nó thật đáng yêu, và con gnuwowif nó hoàn toàn là của nghệ thuật.
Có điều là nhũng cái nó viết ra xanh xao và hơi trừu tượng, nó đàm đẹp và trơn tru, nhẵn nhịu; Nó thiếu một sức ấm nóng lan tỏa. Có lẽ điều đó không phải là không đáng ngại.
Mình không muốn và không được đi theo con đường ấy - Cú kiên trì, bình tĩnh và tích cực, mình sẽ làm được hết"...
Không chỉ có vậy trong một trang khác, Nguyễn Văn Thạc đã thốt lên:
"Không thể nào tin được Hoàng Nhuận Cầm lại có thể viết tốt hơn thế được. Nếu như Cầm nó không thay đổi cuộc sống của nó - Thời gian lơ lửng trên hè phố của nó quá nhiều, nó "trầm tư trên phố" quá nhiều đã tàn phá của nó nhiều thiên tư văn học. Cầu mong đất nước đừng để rơi một khả năng đáng quí - Nó sẽ chẳng bao giờ còn bê tha ở chợ Nhã Nam, mà cống hiến trọng vẹn những tháng ngày còn lại cho thơ".
Đan xen với những nhận xét về người và việc là rất nhiều đoạn tự sự. Đó là những trang viết mà Nguyễn văn Thạc tụe nhận xét và đánh giá chính bản thân mình. Có những đoạn anh tự phê bình bản thân gay gắt: "Không nên yếu đuối, không được chùn bước, hãy cố gắng lên, nhất định sẽ vượt qua".
Âm hưởng chung của tập nhật kí là tinh thần lạc quan, sẵn sàng xả thân vì Tổ Quốc của một thanh niên trí thức. Nhưng không thể không nhắc đến điều này: Nếu ta đặt cương vị của mình vào Nguyễn Văn Thạc - một thủ khoa của cuộc thi học sinh giỏi Văn toàn miền bắc, mới thấy sức ép tâm lí luôn đè nặng và ghê gớm tới mức nào! Không chỉ một lần anh lo lắng tự hỏi: "Liệu mình có thể làm được gì cho văn học chống Mỹ hay không? Biết bắt đầu từ đâu và đi theo con đường nào? Làm sao có được một bàn tay dẫn dắt của người đi trước?"
Nguyễn Văn Thạc luôn mơ ước khi ra trận mình sẽ làm được như Bốrit Pôlêvôi - một nhà văn Liên Xô nổi tiến với những tác phẩm viết về chiến tranh. Anh sẽ thu thập nhièu vốn sốn, để viết văn, làm thơ, ca ngợi những con người đã hi sinh những gì riêng của mình cho giai cấp, cho dân tộc.
Có thể không nói qua rằng: Thần tượng của Nguyễn văn Thạc trước khi ra trận chính là nhà thơ trẻ Phạm Tiến Duật trên tuyến đường Trường Sơn. Thạc luôn mơ ước mình sẽ làm được như thế và hơn thế! Nhưng giữa mơ ước và hiện thực luôn là một khoảng cách rất xa, mà không phải ai cũng có thể vượt qua!
Bởi thế, đã có những lúc Thạc bi quan: "Kể ra bây giờ mà chết thì thật đáng tiếc. Những ngày còn bé, những lúc đi học chẳng bao giờ phai phiền toái đến chuyện đó cả, chỉ miên man với tương lai anh sã làm gid và sống ra sao. Nhưng bây giờ, những ý nghĩ đó mọc ra.
Khó gì đâu - cái chết - chỉ một viên đạn lạc hay một hơi bom. - Sự thật bi đát đó không trừ một ai cả".
Thậm chí, đã có những giây phút, Thạc lâm vào trạng thái rời rã, chán nản và thất vọng đến cùng cực. Có một trang sổ tay Thạc viết bằng bút chì, Viết xong, anh gạch chéo và xóa đi. Đọc lại, ta có thể cảm nhận được tâm trángooi bời, đau khổ đến tột cùng cua người viết:
"Phải hết sức trấn tĩnh, tôi mới không xé hoặc đốt đi cuốn nhật kí này. Trời ơi! Chưa bao giờ tôi thấy chán nản và thất cọng như buổi sáng nay, như ngày hôm nay cả. Tôi không giải thích ra sao nữa. Người ta giải thích được cần phải trấn tĩnh mới hiểu lí don và lung tung. Còn tôi rời rã chán nản với hết thảy mọi điều, mọi thứ trên trái đất này. Phải tôi hiểu rằng, với một người con trai đang khẻo mạnh, đang sung sức, đang ở giữa mùa xuân của cuộc đời mình thì buồn nản, thì chán đời là một điều xấu xa và không thể nào tưởn tượng được - Người ta đã chửi rủa biết bao lần những thanh niên như thế - Nhưng tôi biết làm sao khi chính bản thân tôi đang buòn nản đến tận cùng này. Tôi lê gót suốt con đường mòn - Con đường mong như chính cuộc đời tôi đang mỏi mòn đi đây - Tôi ngồi bệt xuống bờ sông, con sông cạn đang rút nước. Tôi vốc bùn và cát ở dưới lòng sông, và qua kẽ ngón tay nó rớt xuống, rớt xuống. Tôi muốn khóc, khóc với dòng sông. Không, chẳng có ai cớ thể đem lại cho tôi được chút gì niềm an ủi hay vui sướng cả. Mọi người không hiểu được tôi, mọi người gắt gỏng với tôi. Trời ơi, giá lúc này tôi có thể chết ngay đi được. Có thể quên hết nỗi phiền muộn và sầu não ngập tràn cả hồn tôi thì sung sướng biết bao..."
Nhưng đó chính là suy nghĩ rất thật của một chàng trai sống thiên về nội tâm, luôn nhạy cảm. Xin đừng ai vội kết tội anh là hèn nhát, là xấu xa. Bởi anh cũng là 1 con người, với bao cảm xúc buồn vui và tình yêu không bao giờ vơi cạn. Điều quan trọng là anh đã biết vượt lên, đã tiếp tục chiến đấu cho tới hơi thở cuối cùng và hy sinh ngay tại mặt trận!
Xin hãy đọc kĩ đoạn cuối cùng của cuốn sổ nêu trên, mới thấy hết được tâm trạng vừa hồi hộp, háo hức vừa trống trải và bí ẩn của người lính trẻ khi biết mình sắp bước vào cõi chết mà vẫn bình thản đến bi hùng:
"Và bây giờ, tạm biệt cuốn Nhật Kí đầu tiên của đời lính. Không kịp xem lại được một lần, không kịp chữ những âm bằng âm trắc trong cấu trúc một câu văn vội vàng và bụi bặm...
Ngày mai, ngày kia... Phải để lại tất cả ở đằng sau. Tôi không thể để cho ai đọc được những dòng suy nghĩ này. Trừ khi tôi không còn sống mà gìn giữ nữa...
Kẻ thù không cho tôi ở lại - Phải đi - tôi sẽ gửi về cuốn nhật kí này, khi nào trở lại, khi nào trở lại, tôi sẽ viết nốt những gì lớn lao mà tôi đã trải qua từ khi xa nó, xa cuốn nhật kí thân yêu của đời lính.
Ừ, nếu như tôi không trở lại - Ai sẽ thay tôi viết tiếp những dòng sau này? Tôi chỉ ao ước rằng ngày mai, những trang giấy còn lại đằng sau swx toàn là những dòng vui vẻ trống trải và bí ẩn như những trang giấy này.
Một ngày cuối tháng 5/72
Hà Tĩnh
ANh lính binh nhì."

Có thể coi những trang nhật kí " chuyện đời" là một cuộc trải nghiệm thực tiễn vô cùng gian khổ, nhiều hi sinh, nhưng lại đầy mê say và hấp dẫn của một chàng thanh nien trí thức Hà Nội trong những năm đầu thập niên 70 của thế kỉ trứơc.

sweetie_cat88
01/08/2005, 10:13
4.

Trong nhật kí của mình, Nguyễn Văn Thạc đã nhiều lần nhắc đến những cái tên viết tắt: P., hay N.A, hoặc N.Anh... Tất cả chỉ chung một người: Phạm Như Anh - cô bạn gái thân thiết nhất của anh. Đây là nhân vật xuất hiện nhiều nhất, được tác giả viết bằng một tình cảm đặc biệt và thường được coi như cái cớ, như nguồn cảm hứng bất tận để anh bộc bạch mọi buồn vui.
Vậy Phạm Thị Như Anh là ai? Chị là con gái cảu luật sư nổi tiến Phạm Thành Vinh (Nguyên chủ tịch hội sinh viên Đông Dương, nguyên Chánh văn phòng Bộ QUốc Phòng); cháu ngoại của cụ Hồ Đắc Điềm ( nguyên Chủ Tịch hội Luật gia Việt Nam, nguyên phó chủ tịch đầu tiên của Ủy ban hành chính Thủ đo Hà Nội, nah ruột của GS.TS Hồ Đắc Di).
Phạm Thị Như Anh kém NGuyễn Văn Thạc một tuổi, học sau một lớp cùng trường cấp III Yên Hòa B và cùng là học sinh giỏi Văn của Hà Nội. Họ quen nhau trong một buổi liên hoan họp mắt các học sinh giỏi văn của thủ đô vào tháng 4-1971. Đôi lần hẹn gặp tại phòng đọc của Thư viện Hà Nội. Hai người đều thích cuốn sách "bàn về hạnh phúc thanh niên" của Nguy Nguy. Ngay tring trang đầu tiên của cuốn sách này, (hiện gia đình còn lưu lại được), có bút tích của Thạc viết: "Bạn Như Anh, có nhớ ngày 30-4-1971?". Đó là ngày họ gặp nhau, với kỉ niệm đẹp và lời hứa ước không quên: Bốn năm sau sẽ trả lời chính xác câu Hạnh phúc là gì"! Trong đêm chia tay trước khi đi xa, (Thạc vào bộ đội, ra trận, còn Như Anh đi du học tại Liên Xô) hai người cùng đạp xe lên dạo Hồ Tây... Theo chị Như Anh nhớ lại thì trong khoảng 4 thàng rưỡi trời quen biết, tổng cộng thời gian anh chị gặp nhau 5 lần, với khoảng 20 giờ đồng hồ. Nhưng chừng đó cũng đủ để hình bóng họ không bao giờ phai mờ trong nhau.
Trong thư và nhật kí, khi nhớ tới Như Anh, Thạc thường nhắc nhiều và ấn tượng nhất là chiếc áo màu xanh da trời chị hay mặc. (Trời xanh thì ai nhìn cũng thấy, ngỡ như rất gần mà không thể nào với tới được). Thạc cũng có một chiếc áo màu xanh y xì như thế. Sau này, anh đã đề nghị chị Như Anh hãy cất giữ chiếc áo đó làm kỉ niệm, để nhớ mãi những ngày xa nhau...
Ngồi kể lại cho tôi nghe những kỉ niệm của hơn 30 năm về trước, chị Như Anh đã không cầm nổi được nước mắt. Đó là những giọt lệ hiếm hoi của một người phụ nữ đã ngoài năm mươi, từng trải và cứng rắn. Hiện TS. Phạm Thị Như Anh đang cùng gia đình định cư tại nước ngoài. Là một doanh nhân thành đạt, chủ một công viên mang tên "Chín con rồng" nổi tiếng của người Việt Nam tại vùng Hannover của CHLB Đức, chị đã từng được báo Lao ĐỘng dành cả trang giới thiệu trong số Tết Nguyên Đán. Ất Dậu, với bài "Hồn Việt giữa lòng Châu Âu".
Với tôi, những kỉ niệm về Nguyễn Văn Thạc gắn kiền với tuổi trẻ trong sáng, lãng mạn và quãng đời đẹp nhất của thời con gái - TS. Phạm Thị Như Anh tâm sự - Đã có cả một thế hệ thanh niên sinh viên Hà Nội, những con người ưu tú nhất của Thủ Đô ngày ấy, từ trường Đaih học cầm súng bước thẳng ra mặt trận, nhiều người đã ngã xuống và không trở về.
Có lẽ bởi thế, TS Phạm Thị Như Ah luôn coi gần một ngàn trang thư mà Nguyễn Văn Thạc đã viết cho chị, cùng cuốn sổ ghi nhật kí bì bọc ni-lông màu xanh da trời như những kỉ vật vô giá. Những rtang giấy mỏng manh đã ố vàng vì thời gian ấy, càng trở nên thiêng liêng hơn kể từ sau ngày chị nhận được tin anh hi sinh tại chiến trường Quảng Trị...
Trong một trận đánh ác liệt bên thành cổ Quảng Trị, chiến sĩ thông tin Nguyễn Văn Thạc đã bị trọng thương, mảnh pháo đã cắt ngang đùi trái, sau này, một đồng đội của anh kể lại: Mặc dù đã được ga rô và băng bó, nhưng mất máu quá nhiều nên sắc mặt Thạc tái dần đi. Tuy nhiên, anh lại rất tỉnh. Đồng đội vừa cấp cứu vừa động viên Thạc. Nhưng anh nói: "Mình tỉnh thế này tức là sắp chêt rồi... Chỉ tiếc là không còn chiến đấu được nữa... bao dự định còn dang dở". Sau đó, Thạc tắt thở trong vòng tay của đồng đội. Như nhiều người lính đã ngã xuống ngoài chiến trường, thi hài của anh được đồng đội bọc trong một tấm tăng ni lông và chôn cất ngay tại nơi hi sinh, gần mặt trận.
Khi còn sốn, Thạc vốn là người con hiếu thảo, chăm chỉ, nên được mọi người yêu quí và đã là niềm tự hào trông đợi của cả gia đình. Nhà đông anh em nhưng Thạc hay tâm sự với người anh cả là Nguyễn Văn Thục. Giữa họ, hình như không chỉ có tình thân thiết ruột thịt, mà còn như một đôi bạn tri kỉ. THạc gửi gắm nhiều tâm sự vào người anh cả. Vì vậy, nhiều trang viết riêng tư và thư của bạn gái thên thiết phải để lại nhà khi ra trận, Thạc chỉ muốn riêng anh cả giữ và đọc, có gì cần thiết thì nói cho bố mẹ và gia đình biết.
Kể từ lá thư cuối cùng ghi ngày 21-7-1972, Thạc gửi về gia đình báo tin đã đi chiến trường, gia đình không nhận được tin tức gì của anh nữa, nên rất bồn chồn, lo lắng và linh cảm có chuyện chẳng lành. Tháng 5-1973, khi gia đình chưa nhận được giấy báo tử, thì một đồng đội thân thiết của Thạc báo tin anh đã hi sinh.
Thư viết rất rõ: "Mộ của Thạc ở đầu thôn Đầu Kênh, xã Triệu Long, quận Triệu Phong, Quảng Trị. Mộ được đặt ở thửa ruoongj khá cao, cùng hai ngôi mộ khác. Thạc đặt đầu tiên".
Nhận được hung tin, cả gia đình Thạc buồn đau và thương tiếc. Đặc biệt là cha mẹ THạc đã già yếu, lại càng đau ốm hơn. Vừa thương tiếc người em trai tình nghĩa, vừa xót thương cha mẹ buồn khổ, ông Nguyễn Văn Thục đã quyết tâm đi tìm mộ em trai, để cha mẹ và gia đình được an lòng.
May mắn thay cuối năm 1976, công ty 16 - Bộ giao thông vận tải vừa hoàn thành việc thi công khôi phục đường Hiền Lương - Dốc Miếu, ông Thục với cương vị là Phó chủ nhiệm công ty được giao nhiẹm vụ chỉ đạo vận chuyển vật tư thiết bị thi công ra Hà Nội. Nhân cơ hội này, ông báo cáo giám đốc giúp đỡ, kết hợp tìm mộ em trai.
Hồi đó, miền Nam vừa giải phóng, mộ liệt sĩ còn nằm rải rác khắp nơi, chưa đuợc quy tập về nghĩa trang như bây giờ, nên việc tìm kiếm gặp không ít khó khăn. Nhưng được giám đốc Công ty 16 cũng như lãnh đạo và nhân dân địa phương giúp đỡ, ông Thục đã thực hiện được nguyện ước là đưa hài cốt của người em trai về Hà Nộ vào giáp Tết ĐInh Tị (1977)...
Bây giờ, ngôi mộ của anh lính binh nhì Nguyễn văn Thạc - người giỏi văn nhất miền Bắc một thời, người đã có dự cảm về ngày 30-4-1975 trước gần 4 năm, tác giả của tập nhật kí mang tên "mãi mãi tuổi hai mươi" mà bạn đọc có trên tay - đang nằm trong nghĩa trang của huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội.

frozen_heart
01/08/2005, 13:22
2.10.1971

Nhiều lúc mình cúng thấy không ngờ nổi rằng mình đã đến đay. Không ngờ rằng trên mũ là một ngôi sao. Tren cổ áo là quân hàm đỏ. Cuộc đời bộ đội đến với mình tự nhiên quá, bình thản quá, và cũng đột ngột quá.
Thế là thế nào? Cách đây ít lâu, mình còn là sinh viên Bây giờ thì xa vời lắm rồi những ngày cắp sác lên giảng đường, nghe thầy Đường, thầy Đạo... Không biết bao giờ mình sẽ trở lại những ngày như thế. Hay chẳng còn bao giờ nữa! Có thể lắm. Mình đã lớn rồi. Học bao lâu, mà đã làm đuợc gì đâu, đã sống được gì đâu? chỉ còm cõi vì trang sách, gầy xác đi vì mộng mĩ hão huyền.
28 ngày trong quân ngũ mình hiểu được nhiều điều có ích. Sống được nhiều ngày có ý nghĩa. Dọc đường hành quân, có dịp xem lại lòng mình, soát lại lòng mình.
Mình bắt đầy sống có trách nhiệm từ đâu, từ lúc nào? Có lẽ từ 9.3.71, tháng ba của hoa nhãn ban trưa, của hoa sấu và hoa bàng lang nước.
Những người bạn thân yêu của mình đã lần lượt học xa hết cả rồi. Mỗi người một phương. Các bạn đã lên phương Bắc. CÒn mình, sẽ đi về Phương nam...
Đêm Hà Bắc thật thanh bình. Thèm quá, nghe một tiếng thì thào của cánh gió trên đồi bạch đàn... Mình đã sống trên 20 ngày bên hồ cá Yên Duyên, Yên Sở. Ở đó có những đường cây đẹp tuyệt. Mình đã chụp tám ảnh bộ đội đầu tiên đưới gốc cây dừa, sau lưng là hồ cá. Hoàng hôn thong thả thay màu nước. Và ngôi sao Hôm trầm tư, kiêu hãnh mọc trên trời. Cuộc đời bộ đội đâu dễ dàng như thế. Mình đã khóc, nước mắt giàn giụa, khi các bạn tiễn mình đi, khi buổi lễ kết thúc, khi bài Quốc ca rung bầu không khí trong lành trên trường Tổng Hợp. Bản nhạc này đây, bao lần mình đã nghe, đã cúi đầu suy nghĩ. Nhưng hôm nay mới thực hiểu, thực cảm một đièu giản dị: Bài Quốc ca của ta, của ta!
Khóc, không phải vì hèn yếu, không phải vì buồn bã, mà vì xúc động. Vì buổi chia tay này thiêng liêng quá. Những người bạn thân yêu nhất của mình không thể tiễn mình đi được. và bàn tay ấy, đôi mắt ấy, giọng nói ấy... lên xe rồi, xe nổ máy. Xe VIệt Nam sản xuất, tiếng động cơ như tiếng tim mình vậy. Nghẹn thắt vì một cảm giác khó tả, mình ngước nhìn lần cuối cùng cánh cửa sổ, nơi hàng ngày mình bò ra, nhìn xuống lòng đường. Khoảng trời nhỏ của riêng mình đó. Một hôm nào, những hôm nào mình mong chờ nhìn thấy bạn của mình đạp xe qua, để mình gọi... Bây giờ, là chia tay, xe lăn bánh, êm ru, xe đi êm, mà bọn mình xô vào nhau, chen nhau thò tay ra cuẳ. Ngoài kia, là những khuôn mặt gần gũi, tuy có người chẳng bao giờ mình nghĩ rằng có họ sống trên dời.. ở đâu, khuông mặt thân yêu ấy? Bạn đi, mình không gặp được.
Đêm 26/7 chỉ là những gương mặt xa lạ, đầy vẻ hào khí và tụe mãn. Rối loạn, và thỉnh thoảng một thứ mùi khó chịu. Mình không dám đứng lâu và đành chịu giữ một nỗi ân hận giày vò... Mình đi, khi bạn đang bước vào năm học mới. Bước lên giảng đường, bạn có nhớ tới mình không?... Đừng, hãy để tâm hồn trọn vẹn thanh thản, mà đón một mùa xuân của lòng mình. Trang đầu của cuộc đời sinh viên, đừng để rơi một giọt mực, đừng để loang lổ một vết ố vàng...
Xe ơi, lao nhanh hơn, cho ta chóng tới gia đình lớn. Nơi ta gửi gắm cả thời thanh xuân của mình...
Hơn cả khi trên tay phập phồng tờ quyết định. Vui sướng, tự hào, cảm động làm sao khi ta là bộ đội quân phục xanh màu lá. Anh sinh viên quen màu trắn áo của cánh cò, quen màu xanh da trời tháng nắng... Mình trút bỏ không thương tiếc, và trìu mếm khoác lên mình màu xanh ấy. Màu xanh của núi đồi và thảo nguyên, màu xanh bất diệt của cuộ sống
Trên mũ là ngôi sao vàng. ta lặng ngắm ngôi sao, như hồi nào ta chỉ cho bạn: Kia là sao Hôm yêu dấu... Nhưng khác hơn một chút. Bây giờ ta đọc trong một ngôi sao ấy, ánh lửa cầu vồng của trận công đồn, màu đỏ của lửa, của máu...
Ta như thấy trong màu kì diệu ấy, có cả hồng cầu của trái tim ta...
Ai ra đi cũng với lòng say ý tưởng, và nhẹ nhẹ bên trong là chút ước mơ. Buổi gác đầu tiên là đêm trăng sáng, là bài thơ, là một trang nhật kí... Sung sướng và hãnh diện biết bao, ơi xóm làng yêu quí, ngủ yên, ngủ yên, có anh bộ đội thức canh trời. Những mái nhà nghiêng như mí mắt thân thương, nhắm ngủ ngon lành... Ta bước ngẹ, lâng lâng một mùi hương quen thuộc. Bưởi đã cuôi mùa, ổi đã cuối mùa... Cây lá đang dồn nhựa để trổ ra một mùa quả chín...
Đồng đội đọc cho ta nghe những vần thơ trong trẻo:
"Gậy Trường Sơn đưa ta lên đường đánh Mĩu
Nồi cơm Thạc Sanh xưa là chuyện ước mơ.
Nay là lòng dân với người chiến sĩ".
Ta đã đọc ở đây những cái tên lần đầu ta đọc, lần đàu ta biết. Cái tên ấy, những cái tên ấy là một nốt son điềm tĩnh, nốt la nhí nhảnh... là 7 cung bậc của bản đại hợp xướng mà dân tộc ta đang cất lên tiếng hát...
... "Bộ đội đi rồi, chỉ khổ dân, lại nhớ mãi thôi..."
Ai đã nói với mình điều ấy, khi trời đang rạng sáng? 9g30 phải vào màn, nhưng ta thức trọn một đêm, với bốn bề đang rạng sáng, mặt trời mọc, và em bé đã ríu rít ở hàng hiên, một con nhện giăng tơ trên cành ổi.. Có gì khác với nơi ta ở, nơi ta gửi gắm tuổi thơ. Sông Tô Lịch đen ngòm chảy rụt rè trong thành phố, tới đây, vẫn rụt rè như cây trinh nữ.. " Mắc cỡ gì mà cứ khpes cánh ư em?"
Ta đã bao lần đi bên sông Tô Lịch, trước kia ta khó chịu vì mùi oi nồng... ta đã mấy lần hành quân bên sông Tô Lịch, ta yêu sông vì bọt tăm sủi, vì màu xanh non, tươi trẻ có công vun đắp của dòng song. Có phải lòng sông đã quên mình nhơ bâne, đã chịu lòng mình mang mùi vị ấy để đem cho đời những cọng rau muống tươi kì lạ, để đêm màu hồng tươi cho thành phố. Sông Tô ơi, mai trở về, ta khơi lại ldongf sông, cho tuỏi thơ vẫy cùng, cho con thuyền anh chở em đi, đi vòng quanh thành phố...
Hôm nay, đi bên sông, dưới ánh nắng chang chang trên vai là ba lô con cóc của Trường Sơn. Không thể nói là nhẹ được. Quai đeo thít vào vai, ép lồng ngực lại. Đau và bỏng rát, khó thở. Đè lên hông, ép vào lưng, ướt đầm đìa là mồ hôi ta đấy.
Ta đặt ba lô, và cười luôn được. Ừ cuộc đời ta là thế. Phải cười, phải vui. bài hát ta yêu là Trường Sơn ĐÔng - Trường Sơn tây... Con đường gánh gạo không có muối, nhưng không phải là nhẹ nhõm. Vai sinh viên, mặc dù tâm hồn luôn bay bổng, nhưng nên thơ hơn cả những vần thơ là cái nghiến điếng người trên vai, là cái nống bàng hoàng, dữ dội...
Yên Sở ơi, ta yêu Yên Sở như làng quê ta vậy. Nơi trú quân đầu tiên của đời ta. Nơi ta gọi bạn cuàminh là đồn chí. Nơi con thơ gọi ta là chú bộ đội, vẫn những cô gái làng gọi ta là : Chào các anh bộ đội.
Em đừng cười anh vì bộ đội quân phục thùng thình. Mẹ ta nghèo, rau cháo nuôi ta, đau khổ bốn nghìn năm, chắt chiu từng hạt gạo nuôi ta. Để bây giờ ta lớn. Phải lớn lên phải to ra cho kịp tầm cao của lịch sử. Cánh tay này, sẽ bóp nghẹt cổ quân thù.
Đêm đầy sao, chi chít những sao , như lòng mẹ, như lòng em đứng ở bên đường. Hồ nước trong kì lạ, sao mẹ kể, những cái hồ ấy là nước mắt? Đau khổ nghìn năm những tròng mắt nào đã đầm đìa để tích tụ thành hồ... Mà hôm nay đời vui như thế?
Con cá dưới hồ cũng quẫy, cũng đớp ánh trăng và chào anh bộ đội.. Cá, cá ơi, đừng cười anh nhé, đừng kể cho những cô gái trong làng, chuyện bọn anh sợ đỉa nhé, khi các cô ngồi bên bờ này nhắc đến các anh... Quên làm sao vườn nhãn um tùm, nơi ngày đầu ta ngồi yên nghe giảng bài chính trị.. Đầm ấm qua thôi, trên là cây lá, xanh xanh, lấp lánh ngôi sao trên mũ, lung linh những vì sao trên cổ áo, đỏ như lửa là quân hàm, bùng cháy những ngọn đuốc là trái tim ta... Ê a, ê a là em thơ tập đọc. Cô gái nào mà dáng thanh thanh giống người ấy thế... Kỉ niệm lắng sâu, theo ta vào trận đánh...
Nhưng hôm nay, hôm nay sao khỏi bồi hồi. Nồi nước mẹ đun sao mà thơm kì lạ. Có phải đắng cay cả một đời, nên bát nước mẹ đưa ngọt ngào đến thế? Chia tay với con mà mẹ vẫn cười, âu yếm...
Hành quân từ 5 giờ chiều đến 9 giờ đêm, đẹp lắm. Trăng đầu tháng còn đỏ quạch, cứ gợi cho ta nhớ một chánh buồm. Đất, cánh buồm đỏ thắm, đựng đầy gió, gió cuốn nghững ngôi sao đêm, ùa vào lòng, thuyền và đẩy thuyền trôi trong tâm tưởng... Ngủ bên bờ một dòng sông, có những đường dừa thật đẹp.
Trời nóng quá, dây điện chăng như những dòng kẻ của một trang vở học trò. Đừng bấm đèn trêu họ, cứ để họ nói chuyện với nhau. Anh con trai sắp xa người bạn của mình, cô ta lại về trường học tiếp. Chỉ còn vài tiếng nữa thôi, là còi tàu, là chuyển bánh. Anh dặn gì cô ấy, có lẽ chẳng dặn gì đâu, và chỉ mỉm cười... Cậu nào đã cất tiêng hò:
"Tiếng ai như tiếng chuông vàng
Tiếng ai nư tiếng cô nàng của anh..."
Còn tiếng này thì đúng là giọng của anh Châu rồi, anh "Mộng Châu":
"Anh yêu em lắm em ơi,
Nhưng anh chẳng dám ngỏ lời với em..."
Linh khoái, cười khúc khích... Những vì sao dưới sông cũng va vào nhau.. Những cành dừa cũng nắm tay nhau tinh nghịch bay qua bầu trời thanh bình. Tiếng động cơ như xay lúa.
Đêm đẹp vô cùng, ta lắng nghe đât thở. Anh bạn nằm bên rọi đèn pin tìm gì, có phải anh tìm con dế đang cầm cù dạo bản nhạc đêm của Pritsvin? Không cưỡng nổi, ta lấy giấy viết thư cho Như Anh...
"12 giờ đêm 28/9/1971"
Như Anh có thích đọc những dòng này hay không? T. viết cho Như Anh khi đang nằm trên bờ một con sông. Sông đẹp lắm. Đêm rất khuya. Vành trăng đỏ quạch sắp lặn xuống chân trời
Đồng đội của T. nhiều người thì đang ngủ, người đang nói chuyện. Dưới cuốn sách mà T. kê, có 2 lá thư sắp gửi cho Như Anh. Sương ướt đãm vải nhựa. Không một ngọn đèn. Chỉ những ví sao, soi cho T. viết những dòng này.
Bắt đầu cuộc đời bộ đội là thế này đây. Tối quá, nhưng cứ viết, T. thích thế, sẽ có rất nhiều lúc T. viết thế này,. Chắc xấu như ma lem.
(Hành quân đay - Chào Như Anh nhé - Thật tiếc)...
Đến ga rồi, ga văn Điển. Nhưng nào có tàu. Mệt quá, lại phải gánh nồi quân dụng. Chẳng chịu được nữa, mình ngồi bệt xuống đất, dựa vào cái ba lô mà ngủ. Suỵt, nói giấu các "o văn công" chứ, thật đúng với câu: "Má văn công. mông bộ đội:(!). Những chuyến tàu đêm chạy từ Hà Nội đến, cánh cửa, ô cửa đầy thương nhớ. Tàu phì ra những cuộn khói, những đám mây nhân tạo. Mặc kệ, tớ còn ngủ. Đợi một chuyến đi xa...
Sau cùng thì cũng xếp được ba lô lên tàu. Tàu T. Q, khá rộng. Mình chẳng có chỗ đứng, đành đứng trước chỗ đi giải. Thật là bất tiện.Nhưng chẳng sao hết.
Đêm âm u quá, cánh đồng vắng lặng, chỉ nghe tiếng gió, tiếng cồi tàu thở phì phì. Kia rồi, là Hà Nội, là Phố Nguyễn Du lấp lánh sau bức tường của Ga Hàng Cỏ. Thôi chào Hà Nội, 3 hoặc 4 tháng sau ta lại về, ta lại hành hương trên các đường phố vắng gắn bó với cuọc đời ta...
Sông Hồng ban đêm, màu nước, cầu phao dập dềnh ta nhận ra cầu vì ánh điện. Những xon mắt chói ngời kia bảo ta, đó là bờ... Chao ôi, dòng sông Ănggara xa xôi chảy qua thành Iêckut, đêm nào có giống đêm nay? ta như gặp lại khuôn mặt thân yêu ấy. Gió đừng thổi mà mái tóc lại bay rối, lại phải lấy lược chải hoài... GIó đừng thôi, hơi lành lạnh đấy, mà áo thì mỏng về nhà lại ốm...
Bắt đầu xuất hiện bạch đàn dọc theo đường tàu chạy. Cây bạch đàn chép lại cho ta một thời thơ ấu đầy chất thơ, và say nông mùi cỏ mật. Bạch đàn ơi, chạy theo anh nhé chạy theo tàu anh và sống mãi với anh. Khi nào anh nằm xuống, bạch đàn hãy rủ lá, run rẩy và ru cho anh ngủ. Cây bạch đàn cứ cao lớn với đời, cứ hát cho đời bài ca về thầy giáo Đuy Sen và cô học trò giỏi Altưnai, bài ca về cây phong lá đỏ. Mặt trời mọc rồi, các ô cửa toa tàu xanh màu quân phục. Em nhỏ trên đồi đi học đấy ư, mà sao khăn quàng bay và bàn tay nhỏ cứ vẫy các anh... Ta bỗng nhớ một đoạn thơ T.H:
"Các em ơi, đã học chưa
Các anh dựng cho em trường mới nữa
Chúng nó chẳng cong mong giọi lửa
Trường của em đúng giữa đồi quang
Tiếng các em thánh thót quanh làng.."
Ta đã đi qua vùng đồi trung du của Bắc thái, dấu vết của chiến tranh, của lụt lội cong hằn rõ ở đây. Ta đã nghĩ gì khi nhìn và lặng người bên hố bom thù đào sâu gần khu gang thép. Mẹ ơi, ở đây con đã hiểu chiều sâu của đát. Cuộc sống thanh bình chỉ cho ta giá trị chiều rộng, chièu dài của mảnh sân con thường đùa nghịch, của mảnh vườn thang 10, mía ngọt dần lên ngọn, của ngôi nhà ấm cúng conngooif viết bài thơ ca ngợi đát. Chưa biết rằng, đất có chiều sâu, mà hôm nay vết bom thù đã khơi dậy cho con...
Ga Lương Sơn... hay ga gì đó, xuống tàu và cào bãi cỏ rộng nghỉ. Khoảng 9 giờ rồi, cỏ may, cô gái nào xưa níu bước chân chàng trai trẻ, nay gài vào quần áo các anh bộ đội. Cô muốn thêu gì lưu niệm? Đêm nay, bên bếp lửa nơi trú quân, nhặt cỏ may và chwcs có anh chàng mơ mộng lại nghĩ hòa một người bạn gái, gioig nghề may vá... " EM khâu gì vào chiếc áo của anh?"...
Và cả cây mắc cỡ, cô gái gây thơ, khẽ chạm vào là nép mình xấu hổ, các anh lính trẻ lại cứ trêu hoài...
Chuyến tàu, lính xô nhau lên chiếm chỗ gần cửa sổ. Ừ thế mà Vũ ĐÌnh Minh lại viết: "Người bốn phương nhìn nhau qua ánh mắt / Một chỗ ngồi cũng nhường nhịn cho nhau"(!)
Tớ khoái không để đâu cho hết, vì được ngồi bên cửa sôe. tàu chạy rồi, gió thốc vào mát lạnh. Từ đây, rừng rậm rạp hơn, đồi kề ngay đường tàu chạy. Người kiếm củi trên đồi cứ vẫy...

sweetie_cat88
02/08/2005, 01:49
3.10.1971

(Suốt đêm qua không ngủ được. Cứ thức hoài vì những cảm giác nôn nao, rạo rực. 1 giờ sáng, khuya quá rồi. Phải vào màn ngủ. Ừ, cuộc sống bên trong của con người thật kì lạ, cứ nhớ, cứ nhớ... Nhớ ai, nào biết... mà sao không ngủ được).
Rừng chẳng nên thơ như người ta tưởng tượng. Cây cao, xù xì nom rùng rợn. Vựac sâu, dây leo chằng chịt, chứa đựng biết bao điều bí ẩn. Cuộc sống của ta sẽ léo dài ở đó.
Dân tộc ở đây là gì? Mán hay Thổ? Ta chỉ mong nhìn thấy một cô gái Sán Dìu, quần đỏ, giữa mênh mông đồi cây. Bỗng nhớ một câu thơ có vần: " Gà đánh trống.../ Khỉ leo thang/ Có những cô nàng/ Váy đỏ yếm trắng..." Sao lại nhớ đến câu ấy? Bạn hỏi vậy. Mình chẳng biết nữa. Hình như màu sắc, âm thanh, hình khối hòa trộn trong đó phù hợp phần nào với những cảnh mà mình đang chứng kiến...
Ai đã xây nên những đường hầm xuyên núi, bàn tay của ai đã lần lượt lữa trên những mặt đá này. Ngồi bên cuẳ tàu chạy nhanh, gió thôc vào làm lạnh, cả hơi đát, hơi đá ẩm ướ, âm u. Toa tàu tối om, không ai hé răng. Vì sợ hay vì lạ? Còn mình thì lạ, cứ thò đầu qua cửa, nhìn về phía cửa hầm. Bùi than bám đen cả mặt. Con tàu phóng nhanh, rung lên bần bật. ÁNh nằng đây rồi, hối hả trên từng khuôn mặt. Ngoảnh lại phía sau, là ngọn đồi con tàu vừa chui qua. Vẫn cây lá ấy, bình thản vô tư lự... "chuồn chuồn kim thân dài, cnahs đỏ/ Em khâu gì trong áo xám của đồi cây..."
Có lẽ là như vậy... Yên lặng, bình thản trên đó, để dưới đáy sâu của nó, có con tàu băng băng chở một nguồn sinh lực mới...
Tàu ơi, cứ chạy đi, chạy nhanh đến những vùng đất nước xa xăm... Kìa lá cây vàu, cây bương, khác với lùm tre quen thuộc. Cái cây gì mà cao lạ lùng, trong suốt cả cuộc đời nó đã tiễn mấy chuyến tàu qua...
Bạn thì thào bên tai: Suối đấy, trong vất. Nhưng đừng tắm vộ... Ờ, dòng suối trong vắt, róc rách chảy dưới chân đồi. Những vien sỏi đỏ tím vàng óng ánh đâu rồi? Mà chỉ thấy những chiếc lá úa vàng xoáy tròn.
và chìm nghỉm... Đám mây ơi, mây trôi về đâu? Nhắn giùm ta tới người bạn ấy, rằng: ta nhớ lắm, nhớ bồi hồi. Ta gục đầu xuống bàn tay... Rồi sau đó thì sao, P. không biết nữa, P. không muốn biết nữa, vì khi đó, T. gần quá, đến nỗi không thể chấp nhận được câu trả lời ấy...
ANh câu gì bên dòng suối ấy? Tôi nhìn rõ lắm sợic cước trong trong như một tia nắng cong queo trên mặt nước. Cuộc sống thanh bình biết mấy, trong một dáng văng cần, trong một bóng mát của vành mũ lá...
Lính ào qua cửa ssor, sỏi dưới chân cũng mang màu đỏ quạch của núi đồi. Nắng gắt, choang choang. Ga này cũng không biết tên gì nữa. Chỉ có bưởi, quả bưởi trên rừng nhỏ như nắm tay và khô. Dùng tạm vậy. Tất nhiên là phải có tiền. Mệt, nhưng mọi người đều hồ hởi và hể hả. Khoan khoái ngồi trong bóng của một ngôi nhà lợp nứa. Chẳng có nước. Trời nằng - giở bánh mì ra ăn, nghẹn lại nơi cổ họng... Tạm biệt, con tàu màu xanh, đi đi... Xa hơn nữa là Bố Hạ, cam Bố Hạ... là dòng sông Thương... Còn ở đây, khét cháy...
ĐƯợc lệnh hành quân vào rừng. Chỉ 7km thôi.
Con đường rừng đầu tiên ta đi, vai nặng ba lô, mồ hôi ướt đãm ngực, vai và sau lưng áo. Con đường dài và mất hút... Quay lại phía sau, cũng con đường... Con đường xa lạ và gập ghềnh...
Khiếp, ba lô chứa gì mà nặng thế, oằn cả lưng anh bộ đội. Mảnh đồi ơi, ta chưa từng quen biết, nhưng hôm nay mồ hôi ta đã nhỏ xuóng đất này.
Nằng cứ chang cahng, con chim gì cứ kêu làm rối lòng người. Đường dốc ngược lên trời.
Những ngọn đồi này đây, gần một thế kỉ nay, là nghĩa quân của HÙm thiêng Yên Thế. Bà Mế già ơi, cây súng kíp này có phải của bố ngày xưa đóng khố theo cụ Đề dấnh Pháp. Gian nhà trống trải, trơ trọi trên đồi. Nước ở đây ít lắm. Nhòm xuống giếng cứ hun hút. Em có soi gương thì ra suối. Cái gương giếng nhà làm chóng mặt em...
Cụ chủ già lắm rồi, mái tóc bạc trằng, da mặt hằn nếp thời gian. Cụ cởi trùng trục, quấn quanh mình một mảnh vải thô, hai bàn chân khoằm khoằm, đi vòng kiềng mà thật vững.
Em gái học lớp 9 trên huyện, vắng nhà... Anh biết vậy vì áo hoa xanh của em không phơi trước cửa, mà gấp ở đầu giường. Núi rừng ơi, Yên Thế... Ta yêu người vì cây chò chỉ, cây lát, cây sim rừng sừng sững, như bộ ngực của nghĩa quân ...
Ta nằm ngửa mặt cho những giọt nắng đỏ lanh tanh chảy từ kẽ lá. Gốc đa rừng, cái dốc của rừng, bàn chân nào đặt bước đầu tiên trên con đường hỏm hẻm luồn sâu trong lá, để bây giờ đến lượt ta đi...
ĐƯờng dài đến thế, ta đi mãi, mải miét theo... Chỉ thấy ba lô nặng trên vai, chỉ thấy mây trắng cuốn về phương Bắc, thấy trời xanh ngút ngàn, và rậm rì là cây, là cỏ...
ĐÃ cuối mùa sim. Quá sim tím sẫm, ngòn ngọt. Có phải rừng chiều ta nên kéo daimuaf sim tím cho lính. Miệng cậu nào cũng lép nhép những sim.
Xóm làng đây thưa thớt, mái nhà như một đốm nhỏ chìm giữa lá cây...
Rải chiếu giữa trời là cây giàng giàng. Đừng bước vội hái hoa rừng mà gai đùm đũm dọa đấy. Ta đút vội vào ngực áo những chiếc lá rừng, rưng rưng nhựa. Ai đã viết những câu thơ để bây giờ ta đọc:
"Da bàn tay thường chạm với da cây,
Khuong mặt người chạm vào mặt lá
Rừng già ơi, rừng già kì lạ quá.
Không có những ngày này hồ dễ đã quen nhau..."

sweetie_cat88
02/08/2005, 01:50
4.10.1971

"Anh hẹn với em cuối tuần/ Chờ nhau nơi cuối phố/ Biết anh thích màu trời/ Em đã bồi hồi, chọn màu áo xanh/ Sáng chủ nhật trời trong/ Nhưng trong lòng dâng sóng/ Chẳng thấy bóng anh sang/ Đêm thứ hai thu vàng/ Đêm thứ ba thu tàn/ Mùa đông thứ tư sang...
Bạn, đừng hát nữa, mà làm nao lòng bộ đội. ta bước trên đồi bạch đàn, dưới chân là đá sỏi... Chao ôi, bầu trời xanh quá, màu áo thân yêu của ta đã xếp lại nơi nhà...
Bao giờ hai đứa hẹn nhau, hẹn ở đầu phố... Ới cái phố thwangr tắp những cây, những ngôi nhà. Chắc phố buòn lắm đấy, vì vắng bóng lũ trẻ đá cầu, đi đâu con cá trắng.. Vắng một gioịng cười...
Ao ước lắm, một lần gặp bạn, một lần nữa thôi cũng được, ta sẽ nói hết, ta sẽ nói hết... Phố đừng cười nhé, dặn thế rồi mà lá cứ reo reo...
Sao khi ở gần với phố, chẳng yêu phố nhiều hơ nữa, để bây giờ hối tiếc.. Ừ... Thời gian...
Bẩy ngày là đủ một tuần. Không phải 7 ngày chờ mong nữa, mà dằng dặc...
Đồi bạch đàn vẫn thong thả đồng ca bài hát cổ xưa của mình. Bạch đàn ơi, bỡ ngỡ gì em xòe lá? Hương bạch đàn, nhựa bạch đàn gợi điều mơ mộng quá... Em ở đâu chẳng về, anh dắt tay em... Qua đồi này, là tới đồi sim, tới đồi hạt dẻ. Sim cuối mùa, đừng bắt đền, làm môi em tím. Tím lưng đồi là màu tím hoa mua, không, chẳng phải đâu, đấy là màu tím Huế, màu tím của em...
Chao ôi, là nhớ... Mình tưởng tượng thấy bóng dáng yêu dấu đang nép sau thân bạch đàn ứ nhựa. Đừng giận gì nữa hết, xa nhau lâu rồi, còn có nhiều điều để giận.. Hay P. giận vì lá thư cuối tháng 6 không được trả lời? Không viét nổi P. ạ, không sao viết nổi, vì nỗi đau thương cảm sâu sa bóp nghẹt trái tim T....
KHuong mặt dịu dàng ấy, sao hôm nay lặng im thế, xôn xao trong lòng ta, là vần thơ của nhà thơ nào, lâu lăm không nhớ nhữa, cứ lan lan...
"Em đã nói biết bao lời,
Với cha, với mẹ, với người xung quanh
Với biển cả, với cây xanh
Sao em không nói với anh một lời?..."
Ôi giọng nói ấy cứ làm ta rạo rực, giọng nói đánh thức trong ta niềm xao xuyến đã chết lặng và làm cho hồn ta, trái tim ta tràn đầy hạnh phúc. Suốt từ hôm ấy... Hơi thỏe ấy đã phả vào từng sợi toác, bàn tay thân yêu ấy đã xoa dịu cho ta những vết thương. Ta tưởng chừng có thể tan biến đi, "thân cát bụi lại trở về cát bụi"... ta muốn sụp xuống trước trái tim trong sáng ấy... Ơi, thần tượng của ước mơ ta...
Luôn luôn ta mơ ước, tao khao khát, một buổi sáng đẹp trời,nhớ một màu xanh kì dị, ta thức giấc trong hạnh phúc. Một người đang chờ ta, đang đợi ta. Đó là P., đó là P. yêu dấu...
Ta khao khát một sớm mùa hạ, cùng nắm tay P. trong phòng đọc sách.. Mùi sách quyến rũ hay gì mà làm ta xao xuyến thế?
Ta thường mơ, một mùa nào đó, dẫu là mùa đông ứot át và nhày nhụa... ta đứng trên sân ga lắng nghe tiếng mưa đuổi nhau trên bức tường rêu xám. Lòng ta đâu có thế, ta đứng chờ...
Và kia, P. yêu dấu của ta, từ trên tàu bước xuống, P. ùa vào lòng ta hay ta chạy đến dịu đầu vào gò má ấy, mấy năm trời còn gì nữa. P. hé miwwngj cười, nhưng ta đọc trong đôi mát một màu ươn ướt. P. đưa ta về ngôi nhà 72, mới một lần ta hững hờ đến. Và P. sẽ kể cho ta vô vàn chuyện trên đất nước xa xôi.
Ta sẽ kể cho P. rằng: P. ơi, một buổi họp trong gia đình cũ kĩ, ống máng han rỉ, ta thềm được tay cầm khẩu súng loáng ngời ánh thép. Đạn vuốt nòng lắm, ta yêu khấu AK này như yêu người nào ấy, khẩu súng ơi, súng sẽ gắn bó với ta, cùng sống chết với ta...
Khi ấy, ta mới hiểu thế nào là sự sợ hãi khi phải vĩnh viễn xa P. Đừng, lạy chúa, viễn cảnh ấy đừng bao giờ xảy ra cả, đừng, mà ta sống với ai, sống tơ trọi và cô đơn thế, ta làm sao sống nổi.
Khổ vô cùng là nói thật chỗ yếu của lòng mình. Ta đâu muốn thế. P. bảo : "thích thư T. lắm!" Chẳng phải thế đâu P. ạ, rồi sau này nhiều năm, nhìn lại về dĩ vãng P. sẽ cười, và lúc đó, hết cả "thích thư T. lắm"... Lúc đó, những lá thư mà T. viét bằng những trưa không ngủ, bằng những đêm khuya yên lặng trên trường Tổn hợp, trên mỏm đồi xa xôi này, viết bằng cả tâm hồn, bằng tất cãnooi xao xuyến của trái tim - chỉ là một mớ giấy tầm thường, cần phải vứt đi.
Nhưng cũng chẳng sao, và cũng phải thôi. Vì ta chỉ thú nhận điều đó với riêng P., với một mình P. thôi. Ai chưa gặp ta cũng đều bảo ta ngơ ngẩn. Ai mới gặp ta cũng bảo rằng: MÌnh quí, mình thương. Ai ở với ta một thời gian cũng trỏ vào mặt ta mà bảo: Dở người!...
Còn ta, chỉ cười, chỉ khóc. Ta bay trên mây, dưới gió. ta đã gặp ai đâu, ngoài người ta yêu quí, mà có một lần ta xoa tay vĩnh biệt! Rồi đây, người ấy có tự xa rời ta không, không biét. Có phải đời ta là cầm AK đánh giặc. Đứng trên đồi phun lửa vào kẻ thù, dạn dày, thầm lặng... chẳng cần ai biết đến đâu. Rồi lúc nào ta chết, chỉ cầu xin một điều, trên nấm mồ của ta là cây bạch đàn; cây bạch đàn mảnh dẻ...
Nằm trong lòng đất, giá còn được nghĩ, ta sẽ làm thơ, ừ, làm thơ, làm toán... Chà, lập dị, ngớ ngẩn đến thế nữa cơ.
Sao bây giờ ghét đời sinh viên đến thế. Thõng thẹo và ọp ẹp. Phải sốn khẻo mạnh, dữ dội trong lửa đạn.
Dân quí nah bộ đội. Bọn mình đi xin tre về làm nhà ở. Tre đáy, ngoài vườn, anh cứ ra mà chặt. tre đực, tre cái, tre bánh tẻ đan lống đôi, lống mốt, đan sọt đeo đá sau lưng. Cây tre VIệt Nam, lòng bà mẹ Việt nam, có phải bây giờ a mới hiểu đâu. Nhưng bây giờ ta mới được nhìn, được thấy...

sweetie_cat88
03/08/2005, 00:03
24.10.1971

Nằm mãi mà không ngủ được. Đêm nay là đêm thức bao nhiêu rồi, mình thức dậy. Đồng hồ chỉ 11 giờ kém 15. Kisinhốp là mấy giờ rồi?
Lâu lắm, 20 ngày đã qua, bận bịu và mệt mỏi, mình bỏ quên trang nhật kí, nhưng có lúc nào quên được Như Anh. Tháng mười, tháng sinh nhật - Tuần lễ sinh nhật đi qua, Ừ, trời cũng trong xanh hơn và lòng ta cũng mở ra đón gió. Tuổi 19, 20...
Như Anh ở đâu, nắm lấy bàn tay T., gió rét về thổi ngọn bàng, đâu rồi hơi ấm của ta?
Ai bảo những ngày này không đẹp, không thơ?

sweetie_cat88
03/08/2005, 00:04
25.10.1971

Tháng 11 sắp đến rồi... Và như vậy, thagns 8 đã tôi qua...
Buổi sáng đến chậm chạp.

sweetie_cat88
03/08/2005, 00:09
14.11.1971

Đã 10 giờ đêm, chủ nhật. Đang buổi tiếng thơ của Đài tiếng nói Việt Nam. Khi còn ở nhà, những buổi tiếng thơ này, mình ngồi bên bờ ao hay bên một cái giao thông hào ngập nước, nghe những giọng ngâm quen thuộc. Thế mà hôm nay, ở đây, ở cá đấ hà Bắc này, mình ngồi viết, vừa lắng tai nghe... Kim Cúc đấy, với giọng hơi mượt mà, chải chuốt, Kim Dung, Trần Thị Tuyết. Nghe quen như giọng người hàng xóm.
Buổi trưa, vừa gửi thư cho P. Có lẽ đó là cái thư cuối cùng ở đất Hà Bắc. Từ ngày mai, không được ra khỏi chỗ đóng quân nữa. Không biết đi lúc nào - Lo lắm, liệu P. có hiểu và thông cảm cho không - Biết làm sao được, khi bản thân mình không thể chủ động trong chuyện đó.
Gặp Dũng, bạn học từ lớp 8 - Dũng học trường Đại Học Y khoa, và bây giờ ở C.17 Dũng cũng tốt đấy, hiểu mình và rất quấn quýt. Vẫn gặp trên sân bóng, xung quanh là phi lao, có con đường chui qua, đỏ bụi. Dũng hỏi thăm hết bạn bè. Xuyên đi Bungari rồi, Châu đi Cuba, Dung đi Tiệp hay Đức gì đó... Thường thôi, đừng coi trọng họ, đi nước ngoài thì người ta thích, nhưng ít ai thích người đi nước ngoài, có cái gì hơi là lạ...
Dũng nhắc cho mình chuyện lớp, trường, chuyện thằng Khang, Nhữ ĐÌnh Huân, cái tụi nghịch như quỉ sứ - Ngô Bình nữa, nó đang đóng quân ở Quảng BÌnh, bị thương và đã được jeets nạp Đảng hay sao ý... Nhanh quá, mới đó, mà nay mỗi đứa một phương trời. Mình nhớ mấy câu thơ tặng BÌnh khi tiễn Bình đi booj đội hồi cuối lớp 10...
Dũng hỏi mình chuyện đi nước ngoài. Khơi dậy gì chuyện ấy. Nó khiến mình buồn bã suốt một thời gian dài. Thật hèn hạ và xấu xa.
Mình kể cho Dũng cuộc sống từ khi lên lớp 10. Dũng cũng đồng ý với mình và tỏ ra hài lòng với cách sống ấy. Kể cũng lạ, sao Dũng dễ dàng đồng ý với ý kiến của mình thế.
Dũng bảo cần đoàn kết sâu, rộng với bạn bè hơn nữa. Dũng bảo: " Hãy biết liên kết với các bạn bằng những mặt tốt của họ. Nên triệt để nối mình với các bạn bằng cái tố đó". Kể cũngd hay. Mình sẽ cố gấng.
Đá bóng với B1. Gió minahj. Dạo còn ở trường, mình với Thanh hay ở cùng một bên, bây giờ Thanh ở B1, còn mình lại đá sang B2. Đá bóng mà nhớ trường, nhớ kỉ niệm đến thế - Ơi, Yên Hòa B .. đâu rồi?
Buổi tối, ba má và anh của Minh lên chơi. Còn mình thì chẳng có ai lên - Buồn và nhớ gia đình vô cùng. Nhưng mình không tán thành chuyện lên thăm đó. Mình ngồi nghe rất lâu chuyện hai bác và anh Bằng nói. Chẳng có gì mà phải lên tận đây cả - Nhớ Minh ư, mà sao có vẻ thờ ơ tệ. Không giống trong tưởng tượng của mình chút nào! Hay là tại mình khôngở trong tình trạng đó nên mình không biết, không cảm hiểu?
Không, rõ ràng không. Gia đình đi từ 5h30 sáng mãi trưa mới đến nơi. Mang cả cơm nắm và thức ăn ở Bắc Giang, nhưng không hiểu sao lại về tận đây ăn. Buổi trưa, bọn mình ăn cơm, phải sang chỗ anh Hinh ăn tập trung. Mình chào gia đình cà Minh cũng đi ăn - ở nhà còn ba má và anh Bằng - Sao hai bác và anh không gọi Minh ở lại ăn cùng.
Không hiểu ra sao cả - Lạ thật - Gia đình mình thì nhất định không thế rồi.
Nói chung, mình chưa hiểu rõ lắm về Minh và gia đình cậu ta. Biết chung chung, đại khái.
Tối nay, liên hoan tiểu đoàn, ăn cơm muộn nên được phép nghỉ. Mình nói chuyện với bà.
Bà kể chuyện " Duyên tiên", chuyện " Trương Chi", v.v.... làm mình như trở lại trẻ con. Thương anh Đổng Vĩnh ra gốc cây đề và khóc, ngóng lên trời tìm nàng Bảy.
Nàng tiên ơi, tấm lụa trắng đâu rồi, và gốc cây đề ấy ở đâu trong rừng sâu kia?
"Mùa xuân hoa nở, thiếp về
Mời chàng ra gốc cây đề nhận con..."
Bà bảo mình đọc " Bầm ơi", mình đọc, gió lành lạnh và mình thương mẹ quá, mẹ ơi...
Bà đã 60 tuổi-Bà bảo, năm nay là "năm tuổi", mẹ mình đã qua tuổi 49 và 53 rồi, không bị làm sao là mừng lắm. Lạy trời cho mẹ sống lâu, sống mãi và đừng ốm đau gì cả. Thương mẹ lắm mà không biết làm gì. Thù thằng Mỹ quá, phải giết hết nó đi.

whitecondor
03/08/2005, 01:24
Nửa đầu rất hay

Nửa cuối thì toàn viết về NY -> Ko thík lắm :(

sweetie_cat88
03/08/2005, 02:23
mình lại thấy cái nào cũng hay hi hi hi

sweetie_cat88
03/08/2005, 02:24
15.11.1971

Thằng Mĩ, nó là cái gì mà mơ hồ như thế? Đii bộn đội mình cảm thấy hơi mông lung trong việc nhìn nhận kẻ thù. Hố bom còn toác ra ở trên đồi. Và cảnh làng xóm tiêu điều, bị tàn phá ngày 29-2-1968, ta đâu có quên. Mặt mũi thằng Mĩ thế nào. Hẳn nó cũng là khuôn mặt người bị bóp mwos xộc xxechj. Hẳn đó là bộ mặt nhăn nhúm trước ánh sáng mặt trời.
Đêm ấy, thật đau lòng. Hồi chiều, bị ném 40 quả hom. Điện bị đứt lung tung. Làng xóm chìm trong tang tóc và bóng đêm. Ở ngay trước ngõ là một bát hương hiu hiu khói. Anh Phúc bị bom tiện đwts cả chân, nằm trong chiếc quan tài đỏ, ngọn đuốc nứa thổi phừng phừng, cái xe bò lăn lộc cộc... Sao giống "chiếc quan tài" như thế.
Không, suốt đời ta không quên, ta không quên cảnh em bé miền Nam đập tay lên vũng máu. Dưới tay em lã ra là chậu nước trong mát - cái biển mênh mông của tuổi thơ hồn nhiên, nhí nhảnh...
Thằng Mĩ, nó thế nào? Trời ơi, sao lâu quá. Bây giờ cái khao khát nhất của ta - cái day dứt nhất trong ta là khi nào được vào miền Nam, vào Huế, Sài Gòn - xọc lê vào thỏi tim đen đủi của quân thù.
Ta ngồi đây, thanh bình như thế. Nhưng ở cuối trời Tổ quốc, bao nhiêu người con ưu tú của dân tộc đang đổ máu, đang gập gẫy từng khúc xương, đang bị kẻ thù đầy đọa và các đồng chí của ta, anh Giải phống quân kiên cường đang nín thở đợi giờ xung trận, đang đói rét và đau nhói vết thương, trên một cánh rừng già.
Vậy mà, lại đến giờ đi ngủ. Những cơn gió liu riu trên cành tre đưa ta vào cơn mơ - Ta lại trở về cái ngõ nhỏ của mình.... Lạc lõng ư? có lẽ nào!
Ta biết giấu mwtj vào đâu đây, vào gấu quần hay gấu áo, khi đường Trường Sơn không có dấu chân ta? Khi cả cuộc đời ta chưa có cái niềm vui mãnh liệt của người chiến thắng, cắm cờ Tổ quốc trên cả nước thân yêu.
Phạm Tiến Duật, Triệu Bôn... Các anh em đêm nay ở đâu trên Tổ Quốc? Các anh có viết những bài thơ, những truyện ngắn vào giờ này không? Ôi, những nhà thơ, nhà văn - Chiến sỹ, ta gặp nhau trên cùng một ước mơ làm nhiều cho tổ quốc. Chúng ta có mặt trên trận tuyến ác liệt nhất, khi đất nước đánh thù, có gì tự hào hơn nữa.
Ta bỗng nhớ câu thơ của Hồng Chính Hiền:
"Thương nhau, thương nhau nên hóa gần nhau
Nghe cả tiếng hiệp đồng qua hơi thở..."
Các anh có nghe tiếng tôi? Tiếng của đứa trẻ bước chập chững vào đời với bao thôi thúc, bao niềm tin, hy vọng?

sweetie_cat88
03/08/2005, 02:25
20.11.1971

Đại đội trưởng cũng đi rồi. Quân đội đúng là một đại gia đình, và đi đâu cũng người nhà cả mà thôi.
Chẳng cần tiễn đưa gì cả. Cắt cho Đại đội trưởng cái đầu mới toe - Kỉ niệm, thế là đủ rồi.
Mà kể cũng lạ, biết đâu lần này chính là lần gặp cuối cùng trong đời! Thế mà thật bình tĩnh, thật thanh thản. Nhưng riêng mình vaxnz không thể bình thường được.
Hôm nay Quốc tế hiến chương các nhà giáo đấy. Mình định viết thư cho thi sỹ, nhưng rồi lại bận quá. Không viết được.
Càng nhớ thầy, càng nhớ bạn, càng lo lắng về công việc của mình. Tuần lễ cứ trôi qua, ngoảnh lại, chưa làm được việc gì ra hồn cả. Cả thói quen ghi chép cũng không rèn luyện được. Thật là lo lắng.
KHi còn phổ thông, ước mơ khá lớn, khá lâu dài là được đi, được xa và nhiều, và rảnh rỗi mà viết lách. Bây giờ, thoải mái, không phải suy nghĩ gì về bài học cả. Thế mà từ khi đi bộ đội đến giờ, mình đã viết được gì đâu.
Cầm viết được nhiều quá, quả thực ở nó có tài năng, hay ít ra, đó cũng là một khả năng tốt. KHanh bảo Cầm nó chăm lắm, mặc dù sức khỏe yếu. MÌnh nhớ dạo mới đi bộ đội, hay gặp Cầm lang thang trong đêm. Có lần đi gác, Cầm nằm ngủ ngay trên cái cầu xi măng bắc qua sông Tô Lịch. Nó bảo nó nằm nhớ lại dĩ vãng xưa của nó ở Kinh Đo, đôi guốc mộc và cái quần chùng, hàn huyện với các sư huynh bên quán nước.
Kể cũng lạ, ở nó có gì đáng học đâu, ngoài những ý sáng tạo trong thơ. Cách sống của nó hơi ngang tàn và thiếu nghiêm túc. Nhưng vì sao nó lại nắm bắt mạch thơ đúng thế. Tưởng như lời nào của nó cũng là thoe (!)
Giới thiệu bài hát, nó bảo: Mười con chim sơn ca nuôi trong cổ họng cin ca nhạc phẩm "Trường Sơn Đông - Trường Sơn Tây" nhạc của (...), lời Phạm Tiến Duật. Nhạc Việt Nam được pha trộn ácjăc=ngtin... liến thoắng như cái máy mà hấp dẫn. Lúc ấy, nó thật đáng yêu, và con người nó hoàn toàn là của nghệ thuật..
Có điều là những cái nó viết ra xanh xao lắm, và hôi trừu tượng, nó đẹp và trơn tru, nhẵn nhụi; Nó thiếu một sức ấm nóng lan tỏa. Có lẽ điều đó không phải là đáng ngại.
Mình không muốn và không đi theo con đường ấy. Cứ kiên trì, bình tĩnh và tích cực, mình sẽ làm được hết.
Có điều, thơ là gì mĩnh cũng chịu. Thơ không cần chi tiết mà cần hình tượng. HÌnh tượng thơ phản ánh tâm hồn con người. Đó là điều quan trọng trong thơ.
Cuộc sống này, mình rất yêu, rất đắm mình vào. Nhưng sao ngòi bút cứ tắc, cứ ngắc ngoải? Có phải vì mình không có khả năng? Dám thế lắm.
Càng ngày mình càng hiểu: Không dễ dàng gì đâu - Dẫu anh có đi nhiều, biết nhiều, nhưng cũng cần phải có phương pháp tốt.
Trước kia, còn viện cớ này nọ. Nào dò đường, nhạn đường, nào tự mình, tự xác định dấu vết... Nhưng chẳng lẽ mình cứ hão huyền thế mãi. Cứ lí luận suông thế mãi hay sao?
Mình đã sống thật hay chưa? Chưa, chưa nghiêm túc sống. Trong cả sinh hoạt, trong cả rèn kuyện và trong cả danh dự, lương tâm của người cầm bút tự giác.
Ao ước quá, nếu như trên tuyến đường QUyết Thắng, được đi trên đỉnh Trường Sơn, gặp nhà thơ P.T.Duật... Mình khôn gbieets sẽ hỏi gì, nhưng chắc chắn cuộc gặp gỡ đó sẽ thú vị biết bao.
Bao nhiêu điều muốn hỏi. Bao nhiêu băn khoăn thắc mắc. Thế nào là đề tài, chủ đề thơ? THế nào là cấu tứ một bài thơ? NMhuwng quan trọng hơn cả là nhing cuộc sống ra sao để có thể đưa vào thơ, vào truyện những vấn đè nóng hổi của cuộc sống.
Mình bắt đầu ghét những cảm xúc mong, xáo về đêm hành quân, một đêm gác khuya, một buổi hộp hoặc chia tay trong cái ngõ nhỏ thơ thơ. Không phải là LÝ Bạch để có thể quên "Hoàng Hạc Lâu" mà sáng tác. Cứ hành quân, là trong đầu lại thơ, lại những bài thơ về hành quân mà mình đã đọc.
Chẳng lẽ bầu trời kia không dành ta một ngôi sao xanh, một ngôi sao đỏ làm nên cái lấp lánh của bài thơ?
Mình đi lạc đường chăng? Đâu là "Đường vào thơ"? Càng nghĩ, mình càng bị day dứt và dằn vặt. Mình hiểu rằng không thể rời bỏ được thơ, được văn. Nhưng viết ra thì không đủ độ chín. Chỉ nghĩ trong đầu đã đủ thấy nó xèm xẹp, chỉ muốn dập tắt cái cảm xúc ấy đi.
Không hiểu nhà thơ nào đã nói: Ai đến với cuọc đời chiến đấu để làm thơ thì khó mà làm nên hông một bài thơ. Hãy bắt đầu tùe cuộc sốn, và từ đó sẽ nẩy ra thơ.
Mình đến từ đâu? Mình mong làm được thơ, làm được nhiều thơ hay để làm gì? Thú thực, chưa rõ ràng gì cả. Có lúc, mình muốn làm thơ chỉ vì được đọc môth bài thơ hay đến xuyt xoa! Có lúc lại làm thơ để có tên mình trên sách báo! "Lưu truyền hậu thế" hay sao? Tư tưởng ấy rõ ràng là xấu. Không suất phát từ quan niệm đúng đắn: Phục vụ nhân dân. Hãy bắt đầu bằng người lính!
Bao nhiêu cơn mơ, chỉ còn lại những cơn mơ hữu ích. Nhưng đêm tháng 7... "Tháng 6 qua rồi, T. nhỉ, bây giờ là tháng 7"... - "tháng 7 là gì?" - "tháng 7, mùa thu, lá phong đỏ..." Cô gái ấy ư, trong "ngõ cụt của tâm hồn"...
Mùa thu trải dài như vô tận, cái màu xanh da trời như một niềm thương nhớ không nguôi...
Nhưng cong mùa xuân, mùa xuân, mùa vạn vật sinh sôi, của trăm ngàn hoa thơm quả ngọt... "Thes là P. đã ở đây, với những mùa đông lạnh lẽo và hoa tuyết thờ ơ, bình thản này... Biết bao giờ ta mới gặp nhau? Bỗng nhiên lòng buồn vô hạn. Hay không bao giwof nữa? và mùa xuân của cuộc đời P. là như thế đấy..."
Không phải là như thế! Mùa xuân sẽ về, sẽ đẹp tuyệt vời nhờ sức lực của chính mình.
Tự nhiên, mình cảm thấy và rất rõ ràng, mình có trách nhiẹm với cuộc sống của P.. P. như một cái gì, trái tim mình, như một phần thân thể mình. P. có khỏe không, có nhức đầu và mệt mỏi hay không? Những đêm khuya như thế này, P. đã đi ngủ hay chưa?Bài chắc nhiều và khó, có lúc nào P. phải nhíu mày, tập trung suy nghĩ vè một bài toán? Ước gì giúp đuợc P. phần nào, đỡ cho P. một phần khó khăn trong học tập...
Nhưng xa nhau rồi... Kisinhốp, một thành phố nhỏ li ti trong cả lien bang Xô Viết, xa lạ, xa lạ... Còn ngày mai, mình sẽ ở đâu, mình sẽ đi đâu, không thể biết được. Chẳng bao lâu nữa là hai đứa hoàn toàn lại bặt vô âm tín... Rồi sau đó sẽ ra sao? P. sẽ sống ra sao giữa Thủ Đô của bình yên cà sung túc, của vật lý hiện đại?
Và chính cả mình nữa, mình sẽ sống ra sao?
Cơn gió thổi tùe phía đồi mặt trời qua hồ cá. Sương mù thốc nhẹ lên rặng phi lao ven đường... Con trâu đi ngang, con cá trắng bơi dọc, và những vòng sóng hình tròn rộng xung quanh... Sự sống hiện ra ở khấp mọi chiều. Và chỗ nào mà chẳng có mầm xanh, chỗ nào mà chẳng có giọt nắng hình quả trứng lăn nghiêng?
"Dĩ vãng thì đã xa xăm. Mà cuộc sống thì luôn cất tiếng gọi trở về". - Alưnai đấy - Có phải đấy là lời tụe bào chữa. Song, chắc Đuysen cũng rất hài lòng về chuyện đó - Như vậy đúng hơn là hợp lô-gich hơn!
Bắt đầu là bộ đội. Rồi sau là thầy giáo. Sau nữa là Đuy Sen. Tiếp đó là Anh - và cuối cùng, là Người, là ông già đưa thư âm thầm, lậng lẽ... Đuy Sen sao khéo chôn kỷ niệm của mình mà sống. Đâu phải dễ dàng vì hai cây phong còn đó, vì ngọn đồi ĐUy Sen còn đó và mùa thu trở lại, lá phong đỏ lại rơi, tơi bời trong chòm râu bạc... Con người đó đáng kính phục lắm, lý tưởng lắm. Đã có ai trên đời này lấy Đuy Sen thay cho Carosaghin? Cuộc sống này thi vị biết bao và cần nghị lực biết bao!
Tại sao Đuy Sen lại im lặng, tự ôm lấy con tim mình không cho nó khóc? Vì hạnh phúc của Altưnai ư? Vì quyền lợi của học trò ư?Vì ước mơ cao cả của thầy và trò, của dân làng cùng Kadắc, thèm khát vươn tới đỉnh cao của khoa học...
Còn nhiều nữa và tin rằng, tất cả là sự thật. Nếu như Altưnai và Đuy Sen lại ở bên nhau như hai cây phong tuyệt diệu như vậy, thì ông già Đuy Sen cũng là một cái "tôi" to tướng...
Tôi biết vậy, ta biét vậy... Và con đường cũng mở cho ta hai nhánh lớn. Đuy Sen ơi, Người là ngọn lửa, là ngọn lửa hồng giữa đêm thâu giá buốt. Ta ước mong gì hơn nữa, được làm, được sống như Đuy Sen, được đau khổ và sung sướng như Đuy Sen...
Ôi, tiếng nói nghẹn thắt của Người thầy đầu tiên khi con tàu chuyển bánh, cái tiếng thất thanh của con tim ứ tràn niềm xao xuyến... Altưnai... Altưnai.. Cái tiếng thân yêu ấy, bánh sắt của con tàu đã lăn qua - Hay trái tim giầu xúc cảm và lòng nhân đạo, lòng cao thượng ấy bị bẹp nát trên đường xe lửa?
Cuộc sống tuyệt vời biết bao, trong thức tế và trên trang sách. Nhưng cuộc sống cũng bi thảm biết bao. Cai đẹp còn trộn lẫn niềm sầu muộn. Cai nên thơ còn lóng lánh giọt nước mắt ở đời. Bao giờ để niềm vui về cùng hạnh phúc, để những đôi bạn bình yên dạo trong rừng bạch đàn, có ánh nắng xanh dịu và những đàn chim câu trắng muốt điểm sáng của rừng?
Phải đấy, rừng không nên thơ như ta tưởng. Và để ngày mai tuyệt diệu ấy, hôm nay, có bao người cầm súng có bao người gửi gắm vào thiên nhiên xanh tươi, vào cánh rừng gai góc âm u tất cả thời thanh xuân của mình.
Ai đấy, khi nắm tay người bạn thân yêu của mình, khi cánh buồm xanh đi về, cánh cửa trời rộng mở, chớ quên dưới chân mình là cát sỏi, là hòn đất đượm mồ hôi, thấm máu của bao thế hệ, mà cuộc sống của họ đã xa xôi...
Ai đấy, khi khoác vai người bạn yêu quí của mình, chỉ cho bạn, kia là ngôi sao Hôm - ngôi sao Mai... Ngôi sao ban chiều và ngôi sao của bình minh. Chớ quên rằng, có buổi sáng nào, sao Mai mang màu đỏ, màu máu và màu lửa! Chớ quên rằng, để đêm trăng có những ngôi sao tình tự, để con người tụe do mơ ước vươn tới những đỉnh cao xa; có những trái tim đầy khát vọng phải xếp vào ba lô mọi mơ ước dịu hiền nhất, mọi tương lai ca nhân quen thuộc nhất. Mà đánh giặc.
Có lúc nào anh tự hỏi mình: Đâu là chiến hào đánh Mỹ? Đây là dây cung để bật những mũi tên căm uất? Còn tôi, từ rất lâu rồi, tôi đã tìm ra đâu là chỗ đi và chỗ đến của mình...

sweetie_cat88
04/08/2005, 00:28
22.11.1971

Không có ai cầu nguyện cho mình cả. Những ngọn đèn nhấp nháy trên sườn đồi là lo cốt địch. Còn những mảng đen ngòm kia là thằng Mĩ - Hãy cho chúng no đòn. Đồng đã đi qua mùa gặt. Hương lúa chia đều khắp các nhà và trăng lên sớm cho sân kho nhộn nhịp. Rơm còn phơi đầy trên ruộng, rơm gác lên đống rạ, mềm đi vì sương sớm... Dạo mới đến đây, rừng thả hạt dẻ lăn lách tách trên đồi. Còn bây giờ, lại mùa hoa dẻ. Hoa dẻ rừng như nở ra cho vô vàn mùi hương lạ lùng thì thào cùng anh bộ đội.
Đàn dê đi lẫn trong vạt cây thấp, cây mua lá xanh mềm như nhung, cây khế rừng lá tím... Tiếng chuông thơ ngây trên cổ lũ dê rung lên bỡ ngỡ, tưởng chừng như giọt nhựa ứa ra và cuộn thnahf giọt, rơi thừ tốn. Đó là những ống đếm thời gian của rừng già...
Đêm rủ bức màn lốm đốm sáng, đồi chìm vào chân mây, đất và trời bị xóa nhòa ranh giới... Còn anh bộ đội thì hồi hộp chờ đội. Lần bắn thứ hai trong đời llinhs.
Anh hãy nghĩ: Kia đúng là thằng Mĩ, là kẻ thù và ghìm súng vào ngực nó. Đừng lo bắn vào quả tim người, chúng nó chẳng có tim đâu!
Anh hãy nghĩ: Cuộc sống yên lành và ngân nga như lời thơ kia bị cào xé bởi ánh lửa ghê gớm trước mắt anh.
Hãy đứng trong chiến hào của đời mà bắn!
Sương dày nên đạn chưa căng. Tiếng nổ không chất chứa mà âm thầm. Đèn vỡ tung, đạn xuyên qua phao dầu, đạn phá rách toang bia. Phải như thế, mới hả căm thù!
Thủ trưởng bảo: Ta bắn giỏi không phải như anh chàng trong " Hoa diếp dại". Đạo đức cách mạng của người Việt Nam khác thế.
Tự hào lắm, khi được lang thang trên mảnh đất Mẹ hiền này và bảo vệ nó. Còn ai hạnh phúc hơn ta nữa. Trang sách của cuộc đời chuwa mở cho ta, nhưng mới ghé mắt nhìn, ta đã ngây ngất cả người...
Tiếc thay, đã mấy ai nhận thấy!

sweetie_cat88
04/08/2005, 00:29
23.11.1971

Sắp từ biệt đây rồi... Một ngày lặng gió, nhưng lá bạch đàn vẫn líu ríu ở đầu cây. Ôi, Tân yên, vùng đồi trung du của dân ca quan họ, của tấm lòng cởi mở chân tình...
Từ đây 1.10, thế mà gần 2 tháng. Hai tháng đi qua cái của tre quen thuộc, cái hàng rào dứa khi mình đến, còn lưu lại vài quả chín vàng, thơm lựng...
Ta muốn thăm lại thị trấn Nhã Nam, quả bàng chín rụng, thăm hòm thư của bưu điện giấu một niềm tâm sự, một lời thủ thỉ... Ta muốn lại ngồi trong quán nước, gặp bà hàng nhai trầu bỏm bẻm, muốn đi qua sân bóng, muốn vào thăm mái lều san sát vủa bãi chợ ồn ào...
Ta muốn vào thăm nhà bên kia đồi, có cái xe bò và có anh chàng đồi dẻ, thăm cụ già mù bật ngón trên cái kèn đưa người ra ruộng... Muốn đi trên cái dốc "hết ý" của ngày gánh lúa giúp dân...
Ta muoons mãi ngồi trên "đồi mặt trời" để sớm sương giăng, mặt trời tròn đỏ ôm lấy ta mà bay lên... Muốn mĩa ngồi trong bếp của bà, nghe bà kể chuyện. Cháu đun nước cho bà, bà khen cháu ngoan đi...
Nhớ lắm, nơi này, những con người ở đây... Ta cúi chào tất cả. Từ biệt Tân Yên, núi đồi và bạch đàn...
Đầtnay, tuyệt đẹp. Núi sông này vây bọc lấy đồng bằng đâu phải túi bom thù trút lửa! Và con đò mộc đi trong lời thơ đâu phải mục tiêu cho kẻ thù bắn phá.
Hãy khoan đến ngửa tay cầu trời ban cho một bông tuyết trắng. Đêm buông yên lặng cho đôi chim tình tự, chjo cây cỏ bình yên trỗi dậy và cho cả anh bộ đội chuẩn bị lên đường.
Cháu Oanh và cháu Quế đã ngủ rồi. bà và chị Nhàn cũng ngủ... Ôi, ta xa rời ngôi nhà ấm cúng còn phảng phất khói hương này. Mười năm sau sẽ có biết bao thay đổi. Ta có được trở về thăm lại gốc chè xanh của bà, thwm lũy tre vừa gieo mầm trong tháng... Lúc đõ, sẽ khác nhiều và cuộc đời chắc đẹp, chắc thơ gấp bội.
Tháng 2, bà trở lại Thái Bình. Cháu lại đi với mốt thùthằng Tây mũi lõ, thằng Tây quấn thừng đã làm một đời bà khổ. Khi thắng lợi trở về chắc bà không còn nữa. Song đời bà đã mấy mươi lần tiễn các con đi... Chị Nhàn vất vảt mà vui, ấy, người phụ nữ đảm đang có chồng làm liệt sĩ. Khuya thế này chị còn đi đâu, ánh đèn bão lung linh sau hàng dâm bịt... Ừ, như thế, những tâm hồn cao thượng đang nằm nghỉ, ngày mai, họ lại viết tiếp lịch sử của loài người.
Ta bỗng nhớ xa xôi đến đỉnh màn thân yêu, mùa hè thì nóng, mùa dông thì lạnh. Nhớ vườn mía mùa này ngọn gió cũng mang vị ngọt...
Ta nhớ bạn, nhớ Lăng, Hậu, Hải, nhớ từ thằng Kiểm đến dáng người xa lạ ta gặp ở bến xe... Đêm nay có phải là đêm chuẩn bị hành quân vào trong ấy, mà kỉ niê** thức dậy. Ngồi trầm tư trước ngọn đèn...
Mai, Minh đi tiền trạm. Tế vẫn đau bụng rồi hành quân ra sao. Củi không hiểu đã đủ chưa, sáng mai đi lấy gạo. Cải nhổi được rồi đấy, cân cho nhà bếp là vừa... Lỉnh kỉnh lắm, nhưng gọn biết bao, chỉ day dứt là cái lòng mình.. Đất này, Tân Yên...
Em đừng khóc, các anh đi rồi lại trở về mà. Lau nước mắt đi em. Ta là người Việt nam, sống trên đất nước Viêt Nam...
"Đất nước vủa những người con gái con trai
Đẹp như hoa hồng, cứng hơn săt thép
Lúc chia tay không hề rơi nước mắt
Nước mắt chỉ dành cho ngày găpk mặt..."
Rồi cuộc đời ta sẽ quen những lần chia tay, những giờ bịn rịn, nhưng lúc này, ta lại nhớ đến P. Buồng biết bao khi đi xa không có P. ở bên, không có người thân yêu nhất của mình.
Sương xuống lạnh buốt, phải mặc áo rét vào và đi đất. Cái lạnh... Chao ôi...
P. đang làm gì ở nơi xa xôi ấy? Ta lại phải chia tay, lủi thủi một mình, đơn chiếc, ánh mắt kia đâu phải của người ta yêu quí, và gốc cây này, của các bạn thôi...
12 giờ đêm 23.11.1971...
... Vẫn chỉ là tấm ảnh... "Những ngày cuối cùng ở hà Nội. Sau một đêm thúc trắng đấy! A. 2.7.1971". Đôi mắt vừ âu yếm, vừa buông bã. Đôi moi cười ư? Không phải. Chỉ biết cứ nhìn... Ta cúi xuống và hôn...
Lại thế nữa cơ , nhưng quả là như vậy. Nhớ lắm P. ơi, và đừng nỡ trách... Buồn biết bao nhiêu khi để lại trên môi hơi lạnh của mùa đông... Ta chỉ còn tấm ảnh, ta trò chuyện cùng tấm ảnh, ta thổi vào tấm ảnh một linh hồn...

sweetie_cat88
04/08/2005, 00:30
26.11.1971

Thế là tạm biệt tân Yên, tạm biệt đồi bạch đàn thân yêu. Cái lô cốt đồi chắc đã nhắm mắt và chui vào lòng đất. Sương mù lại choàng khăn trằng ở lưng đồi. Đang mùa dẻ ra hoa. Hoa dẻ hăng hăng, mảnh mịn và nhỏ li ti, nhưng gần gũi và thân thiết biết bao...
ba giờ chiều rồi, bà đang làm gì? Nồi nước đun dở đã sôi chưa? Hai bà cháu đun nồi nước cuối cùng vào 4 giờ sáng 25.11, vòi ấm chưa phì ra hơi nước, cháu đã khoác ba lô trên vai rồi... Thoi, thế là mẫi mãi không cong gặp bà nữa. Bà cô đơn suốt cuộc đời nên có bao nhiêu là con bộ đội.
Những chân rạ, hồ cá, cửa tre, giếng nước... bà, chị và hai cháu... Các bà mẹ, các cô gái, các bạn nhỏ trên đồi. Hãy ở lại yên lành và hạnh phúc. Hãy trông nom đồi bạch đàn cho cao lớn...
Chia tay trong sương mù. Ban đêm, rạng sáng, những hạt đen nhỏ li ti giấu hộ dân làng nỗi xúc động òa ra nơi khóe mắt... Dẫu thế nào, ta vẫn là thiếu thốn...
Cột cây số chỉ Bắc Giang 22km. Tiến về phía đó... 600 con người gò lưng và bước. 30kg trên lưng, đường bụi... Phải, lần nào hành quân cũng vậy. Không còn nghic ngợi được gì nữa. Thiên nhiên thu hẹp bằng nắp vung dưới gót chân người đi trước. Không gian như co, như dồn, như ép, éo mạnh vào khắp cơ thể, vào cổ, vào vai, vào lưng, vào chân. Mệt lắm, nặng lắm. Sự thật gồ ghề biết chừng nào.
Ta như lần tay trên cạnh sắc lạnh của cuộc đời, và nhớ da diết đến P.; Dường như đối lập với cái khô khỏnge và dữ dội ấy, hạnh phúc êm đềm khi đứng bên P. . Ôi, đôi vai tròn, nhỏ nhắn, gò má và đôi mắt mềm đằm thắm biết chừng nào... Nhìn mãi, nhìn mãi mà không thấy P. đâu. Chỉ thấy bụi, cát, ồn ào và nặng nề, mỏi mệt. Chỉ thây gánh nặng của đời đè gí hai vai. Hình như đâu đây có tiếng nghiến răng , tiếng ồ ồ từ lòng đất như một lời cảnh báo: Mày muốn xa rời đất này ư? Muốn đi đến thế giới huyền ảo ư? Thì đấy, hãy chôn chân mày. dán chân mày xuống đất và cúi gằm xuống đất này mà đọc lời nguyền rủa!
Đúng lắm, mình có lỗi lắm. thần Prômêtê bị xiền trên bờ biển vì đánh xắp lửa cho những trái tim. Cong chúng mình, muốn trốn trách nhiệm hay sao?
Chỉ nghĩ được thế thôi, và trong phút giây nào dám ngưới nhing ra xung quanh, có chút tự hào về đất nước, về những con người đầy nghị lực không sợ chông gai.
Phía xa là sân bay Kép, từng biên đội đang cất cánh, nhìn rõ cả mũ và buồng lái. Dĩ nhiên phải có màu xanh giản dị và trùng điệp ở dưới này...
Nặng quá và xa lắm. Được nghỉ là ngã luôn xuống dệ đường, không đủ sức tháo người ra khỏi ba lô nữa. Nếu như có P. ở đây, P. sẽ nghĩ gì? Có thương mình không nhỉ? P, sẽ nghĩ gì khi người bạn của riêng P. nằm há hốc mồm mà thở, rời rã chân tay và ngủ thiếp đi trên cánh đồng khô đầy bụi và chang chang nắng... Nhưng nếu có P. ở đây có lẽ mình không nằm thế và sẽ đi bắt chuồn chuồn!
Đằng kia là núi Yên Tử - Trường Sơn thu nhỏ và đang chờ đợi.
Đi đông là niềm tự hào lớn lao của anh bộ đội. Người nào cũng nhận ra trong đoàn quân ấy một chút thân thể của mình và đều thương anh bộ đội. Cong mình, cũng tự hào là một phần nhỏ triong sợi dây xích màu xanh.
Em nhỏ bảo đây là Ngọc Lý, đã sang huyện Việt Yên. Lại yên! Yên Sở, Yên Thế, Tân yên, Việt yên... Chữ "huyện" ở đây gọi là "sếnh" thì phải, nghe là lạ...
Đến Sen Hồ vào 11 giờ trưa, tên "Senm Hồ" thì mát thế mà đến Sen Hồ vừa bụi vừa bức bối, Sen Hồ cách Nhã Nam 18km... Lần đầu tiên trong đời đi bộ quãng đường xa như thế, với 30kg trên vai! Kỳ công thật!
Thị trấn của Việt yên, qua cái đôc và kia, đường nhựa. ôi, đường nhựa. Ôi, hà Nội... Bộ đội ùa ra và dẫm chân leen đường nhựa mà reo... Con đường thân yêu trải dài trước mắt. Hãy đặt ba lô và xoa tay trên mặt đường...
Nhưng, chỉ 1 loáng, chiều rộng của con đường chỉ đủ cho anh lính đi trong giây lát... ta lại đi ngang những cuộc đời bận rộn của thị trấn. Cô thọe cắt tóc, cửa hàng chữa đồng hồ. Bà già bán ớt, bán cam, chanh, đủ cả chua, cay, mặn, chát, ngọt, bùi. Như chính cuộc đời của bà...
ga Sen hồ, có tiếng còi xe lửa. Kia là quốc lộ 1, một ngả về Hà Nội và một ngả đi Lạng Sơn, đi về phương nam và đi lên phương Bắc... Đất nước làm thức dậy trong rta những kỉ niệm còn tươi và những kỉ niệm bị lãng quềntuw rất lâu rồi. ta thấy trái tim như nghẹn lại. Nước mắt đã khô trên gò má, nhưng quả tim với cột đèn tín hiệu, với tiếng còi tàu gợi chuyến đi xa... Như Anh ơi,T. khổ biêt chừng nào...
Bắt đầu đến trạm dừng chân, làng nằm ven đường quốc lộ 1A, bộ đội clee chân vào sâu trong xóm. 2 giờ chiều rồi, bụng đói, mệt và đau. Chân phồng rát như phải bỏng và cứng đờ.
Thôn xóm không nguyên lành. Dân ở đây sơ tán vừa cề, một vài gia đình nhà cửa bom Mỹ phá sập, đang dần hồi phục. Mùi xoan ngam quen thuộc, không dễ ngửi mà thuốc mọc quanh nhà, đầy vườn và cả bên giếng nữa. Một chái nhà còn trống hoác và hở ra cả một khoảng trời trong vắt. Lạ, năm nay trời xanh rất lâu...
Cây na, quả chín nẫu, tím sẫm trên trời.
Gia đình có cô fais học ở Khaccôp...Nói chung, mọi sự đều như thế. Bom rơi trên mái nhà và người ta vẫn đi cho mai sau. Bao nhiêu ý nghĩ trên đời này đều hướng tới tương lai, nhưng bàn tay họ thì chạm vào hiện tại. Nhất là những người mặc áo nâu hở cúc này.
Ở đây, vẫn thuộc Việt yên. Ngủ đêm trên cái chõng nan lạch phạch. Bốn đứa co quắp vàg ngủ thiếp đi. Cái chân đau rát khi chiều đã dịu và hơi quen thuộc trên vòng tròn của miệng giếng và mảnh trăng sáng trắng vỡ tung.
Như mọi lúc ta tụe hỏi: giờ này Như Anh đang làm gì? Kìa, mái tóc rơi vào trang sách rồi - Cẩn thận kẻo nhòe chưa... Còn ở đây, chỉ có tiếng vỏ cây nứt, tiếng chó sủa và tắc kè ran ơe xung quanh.
3 giwof sáng đã dậy, nấu cơm cà lên đuiwqngf. Vốc nước rửa mwtj, nhớ câu thơ của ai đó "Quân đi lòng mẹ bùi ngùi/ tiếng hò kwos pháo bên đồi vọng sang"... Đúng lắm, cà hay lắm. Câu thơ hay vì bước ra tùe một đêm dừng chân như đêm nay.
Thị trấn còn ngủ, cành bàng xòe tay che mái nhà êm ấm. ta dưngd trầm tư trên đường sắt và nhìn về phía phương Bắc - Chân tời phía xa mù tịt, gió lnahj thổi buốt gian mà Như Anh chiếm chỗ, khi con tàu đưa người ta yêu quí đi xa. Lúc Như Anh đến trên cùng một mặt cắt với T. ở đường xe lửa này, dáng người yêu dấu ấy là đâu?
Lúc qua đây, Như Anh nhìn về phía bên trái hay bên phải? Chắc là bên phải, phía đường quốc lộ, vì T. đang đi trển con đường này... Không hiểu có phải thế không?
Ta gặp nhau ở giữa thủi đo và ở cả mọi nẻo đường đất nước... Ta gặp nhau và sẽ mãi mãi bên nhau...
Đến Đáp Cầu, sông Cầu, ngày nào ta đọc bài thơ của Chế Lan Viên: "Có gì đâu, sông Cầu/ Có gì đâu, gì đâu..." hôm nay đã đến - Cầu bị lật sang bên đường, nhưng xe lửa còn đi được. Nãy, một đoàn bộ dội trên tàu đi ngược lên phái Bắc và vẫy mãi, lính gặp lính mà!
Phố bên kia già nua và cũ kĩ lắm rồi. Dường như nó lawtj áo cho bộ đội xem vết thương của chiến tranh. Than đen đày trên bến, lam lũ lắm. Bụi than bám đen cả mặt mũi, cả trên vai và ba lô. Vùng này bị lụt, nước sông Hòng dâng cao, ngày 31.8.1971, nước ngập quá mặt đê 30cm.
Còn bây giờ sông Cầu đang rút nước. Nhưng mặt sông còn mênh mông lắm. Thuyền câu, thuyền đánh cá miên man với làn nước biếc. Buồm trắng, buồm nâu se từng sợ gió và lấp dần vào khúc ngoặt củ dòng sông. Nhũng chiếc lá xà lan nông nổi vẫn ngược dòng chở đá. Tiếng chuông nhà thờ thành kính gọi mây trời... sang đất đạo rồi! Loáng thoáng thấy gác chuông và cây thập giá. Qua ống nhomg, thấy cả chủa Giêsu giang tay chịu cực hình, và con đường được nhạn ra bởi hàng cây rất xanh...
Bộ đội nằm ngổn ngang ở sườn đê. Thịnh ngó vào mắt mình và thét lên: "mày hết cả lãng mạn rồi!" Khổ thế, mắt mình có gì mà lãng mạn. Đôi mắt chết ấy, có lẽ là lãng mạng thì đúng hơn! Nhưng vùng này quả là đẹp, như trong tưởng tượng của mình về đồng quê, cánh cò trắng muốt vỗ nhịp vào ra trong lời mẹ hát. Càng gần Bắc Ninh xứa sở của dân ca, phong cảnh càng êm dịu, càng quen thuộc và mênh mông như bài quan họ "Trên rừng 36 thứ chim"...
Dẫu rằng đất này bị lụt, đồng còn nâu bạ, cỏ cũng úa vàng, cà người làm đồng thì thưa thớt, rơm rạk con mắc đầy trên đây điện và bốn bề có mùi cá tanh tanh... Nhưng vùng quê vẫn đậm đà phong vị dân tộc ở tà áo, nét cười, dáng tất tưởi; bầu trời xanh màu tổ quốc và dãy xoan, lốm đốm chùm hoa đỏ, nhất là lũy tre te te, luc lắc, rì rào, tâm hồn của nông thôn Việt nam...
Xã trú quân là Đại Xuân, thôn Xuân Hòa - Quế Võ. Xã công giáo và từ rất lâu, bộ đội không đóng quân ở đấy. Phức tạp lắm... bọn moình rất lo và yên lặng tiến vào. Nhà cử đổ sụp sau lần bị lụt được tạm bợ dựng lên, tường còn vô vàn lỗ thủng cho gió lùa vào. Chuông nhà thờ từ cõi sâu tịch mịch vẳng ra.. Phải đấy, đây là phái quân tiến vào.
Tiền trạm cho biết, tình hình rất căng. Hoạt động chính trị còn nhiều việc cần giải quyết. Chỉ những người trong chi bộ mới biết ai là Đảng viên. Bà trùm, khi chết, cả xã mới ngã ngửa người vì lúc ấy mới rõ, bà là Đảng viên từ năm 1958.
Nhưng dân công giáo cũng không khác gì mọi người. Đều quí và thương anh bộ đội. Đón bọn mình ở đình làng, cử tam quan bị sụp, trống tuếch, trống toác, nhưng các mẹ ở hội Mẹ chiến sĩ nhiệt tình lắm, và rất vui khi thấy bọn mình khỏe, trẻ, sung sức, chỉnh tề.
Mình vào nhà anh Cương, 35 tuôit và có 6 con, chủ lúa bị tàn phá nặng. Song cũng giống ở Sen hồ, nhân dân vẫn lạc quan, tin tưởng, và sớm chiều, nhà thờ vẫn tong thả gióng hồi chuong gọi con chiên đi cầu chúa...
Vùng đất của nhà chung khá rộng. Cây cối nhiều, nhất là mía. Ăn thả cửa. Nhà nào cũng theo Đạo, và trong nhà treo đầy ảnh Chúa.
Nhà thờd khá rộng và đồ sộ. Mình dừng chân ở bậc đá khi trời vừa sụp tối, ánh sáng nhờ nhờ của buổi hoang hôn tăng vẻ huyền bí, giọng cầu kinh âm rung trên vòm cong của nhà thờ, nghe rợn quá. trong nhà treo lá cờ đen, có hai khúc xương bắt chóe đõe lấy bộ xương đầu. À, hôm nay là tháng 11, đọc kinh cầu hồn cho người quá cố. Cụ trùm trưởng già, đầu nhẵn thín, khoác bộ quần áo đen như một linh mục. Tiếng cầu kinh như rên rỉ, than vãn nhưng mạnh mẽ, dồn đập và không khi nào ngừng. Nó thổi vào long người một sự cuồng tín, tin tưởng ở một sức lực siêu phàm. Nó đè bẹp mọi ý nghĩ phản kháng, và bao trùm lên tất cả những bài ca đều đều, buồn ỉu ấy là sự phục tùng nhịn nhục...

best_in_QT
07/08/2005, 18:22
hix hix,mọi người định đưa cả quyển nhật ký lên đây àh :(
Đọc công nhận hấp dẫn,nhất là những đoạn miêu tả cuộc sống và đoạn chàng viết nhớ người iu=>hay và xúc động
Đúng là Diary của học sinh giải nhất Văn miền Bắc :)

tunloe
13/08/2005, 11:51
Em đọc quyển Nhật kí Đặng Thùy Trâm rồi đọc liền luôn qưyển này! Hay vật!